Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30 - 5 - 2024

V/v Xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nhớ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Tấn Liêm

Ông Đỗ Thanh Tú

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Khải là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 128/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2024 về việc tranh chấp “Xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Nguyễn Chí T212, sinh năm 1997.
  • Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh C ..
  • Bị đơn: Anh Nguyễn Chí T212, sinh năm 1994.
  • Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh C ..

Tại phiên tòa, nguyên đơn có mặt, bị đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 05/3/2024 và tại phiên tòa nguyên đơn là chị Nguyễn Chí T212 trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Chí T212 tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Mỹ, huyện Cái Nước năm 2019. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên thời gian gần đây thì vợ chồng luôn phát sinh nhiều mâu thuẫn, cãi vã bất đồng quan điểm, hai bên gia đình có hàn gắn nhưng không có kết quả. Nay xét thấy hôn nhân giữa chị và anh T212 không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể kéo dài nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T212.

- Về con chung: Quá trình chung sống, chị T212 và anh T212 có 01 người con chung tên Nguyễn Chí Thiên sinh ngày 14/9/2020 đang sống cùng chị. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Thiên, không yêu cầu anh T212 phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung, nợ riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại Tờ xin trình bày ý kiến ngày 08/5/2024, bị đơn là anh Nguyễn Chí T212 trình bày:

- Về hôn nhân: Anh thống nhất với chị T212 về về thời gian chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn, hôn nhân không còn hạnh phúc, không thể hàn nên anh đồng ý theo yêu cầu xin ly hôn của chị T212.

- Về con chung: Quá trình chung sống, chị T212 và anh có 01 người con chung tên Nguyễn Chí Thiên sinh ngày 14/9/2020 đang sống cùng chị T212. Sau khi ly hôn, chị T212 yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Thiên, anh đồng ý và anh không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung, nợ riêng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, anh Nguyễn Chí T212 xin vắng mặt tại phiên tòa vì ngày 27/3/2024 anh bị Cơ quan Cảnh sát kinh tế tạm giam tại Công an tỉnh Cà Mau về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và đang trong quá trình điều tra.

Tại phiên tòa, chị Nguyễn Chí T212 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không trình bày bổ sung gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tranh chấp giữa chị Nguyễn Chí T212 và anh Nguyễn Chí T212 là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Xin ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; Anh Nguyễn Chí T212 có địa chỉ cư trú tại ấp Thị Tường, xã Hòa Mỹ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Chí T212 có đơn xin vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh T212 là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Chí T212 và anh Nguyễn Chí T212 tự nguyện kết hôn vào năm 2019 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Mỹ, huyện Cái Nước. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị T212 và anh T212 đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Theo chị T212 trình bày, sau khi kết hôn thì thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, tuy nhiên thời gian gần đây thì vợ chồng luôn phát sinh nhiều mâu thuẫn, cãi vã bất đồng quan điểm, hai bên gia đình có hàn gắn nhưng không có kết quả. Nay xét thấy hôn nhân giữa chị và anh T212 không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T212.

Đối với anh Nguyễn Chí T212, quá trình giải quyết có cung cấp Tờ trình bày ý kiến đối với nội dung yêu cầu khởi kiện của chị T212. Tại Tờ trình bày ý kiến, anh T212 có xác định tình trạng hôn nhân của anh và chị T212 đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không còn đạt được và đồng ý theo yêu cầu xin ly hôn của chị T212. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T212, cho chị T212 được ly hôn với anh Nguyễn Chí T212.

[3] Về con chung: Quá trình chung sống, chị T212 và anh T212 đều xác định anh chị có một người con chung tên Nguyễn Chí Thiên sinh ngày 14/9/2020 đang sống cùng chị T212. Sau khi ly hôn, chị T212 yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Thiên, anh T212 đồng ý.

Theo quy định của pháp luật thì: “Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên...”; “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con...”.

Xét thấy: Cả hai đương sự là chị T212 và anh T212 đều thỏa thuận được về việc trực tiếp nuôi con chung. Do đó, để đảm bảo sự phát triển toàn diện về thể chất, tâm sinh lý và không gây xáo trộn cho cuộc sống hiện tại của cháu Thiên, cần giao cháu Thiên cho chị T212 được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung, nợ riêng:

Về tài sản chung: Chị T212 và anh T212 xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung, nợ riêng: Chị T212 và anh T212 xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Chí T212 phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Chí T212, cho chị T212 được ly hôn với anh Nguyễn Chí T212.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Chí Thiên sinh ngày 14/9/2020 đang sống cùng chị T212 được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi, anh T212 không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về nợ chung, nợ riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Chí T212 phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 11 tháng 3 năm 2024 chị T212 có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0012919 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.
  6. Về quyền kháng cáo: Chị T212 có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Anh T212 vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Cái Nước;
  • - Chi cục THADS huyện Cái Nước;
  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - UBND xã Hòa Mỹ;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tăng Thị Nhớ

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Tấn Liêm

Tăng Thị Nhớ

Đỗ Thanh Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2024/HNGĐ-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU về xin ly hôn (hôn nhân và gia đình)

  • Số bản án: 97/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn (Hôn nhân và gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger