|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 97/2024/HS-ST
Ngày 29 tháng 8 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Nam Thắng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thắn
Ông Nguyễn Văn Kháng
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 91/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Văn H, sinh ngày 12/4/1997; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Đông Khúc, xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn Giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Bố: Đặng Văn H1, sinh năm: 1966, nghề nghiệp: Làm ruộng; Mẹ: Lương Thị T, sinh năm: 1969, Nghề nghiệp: Làm ruộng; Anh/chị em ruột: Có 02 người, H là lớn; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/4/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
*Bị hại: Bà Lê Thị Hồng N, sinh năm 1978 và ông Vũ Ngọc T1, sinh năm 1971;
Đều có địa chỉ tại: Thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Đều vắng mặt.
*Người làm chứng:
- Anh Vũ Ngọc Trường S, sinh năm 2006;
Địa chỉ: Thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
- Ông Lê Hồng Q, sinh năm 1969;
Địa chỉ: Thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
- Anh Hoàng Văn N1, sinh năm 1995;
Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện P, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- Chị Đoàn Anh T2, sinh năm 1994;
Địa chỉ: Tổ F, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.
- Ông Lê Văn T3, sinh năm 1961;
Địa chỉ: Thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
- Ông Phan Văn T4, sinh năm 1961;
Địa chỉ: Thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
- Ông Vương Văn T5, sinh năm 1986;
Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
- Ông Lê Khắc H2, sinh năm 1986;
Địa chỉ: Tổ C, khu E, phường H, thành phố H, tỉnh Quản Ninh. Vắng mặt.
- Bà Bùi Phương L, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Thôn B, xã Q, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1965;
Địa chỉ: Thôn B, xã Q, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
- Ông Trần Văn B, sinh năm 1961;
Địa chỉ: Thôn B, xã Q, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Cao C, sinh năm 1990;
Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Thôn H, xã V, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Anh Lê Hồng K1 sinh năm 1994 ở căn hộ A, nhà I L, phường B, quận H, thành phố Hà Nội nợ anh Lê Ngọc H4 ở thị trấn X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh số tiền 43.000.000.000 đồng (Bốn mươi ba tỷ) chưa trả nên anh H4 đã trình báo Công an thành phố H đề nghị giải quyết và ủy quyền cho anh Lê Khắc H2, sinh năm 1986 ở tổ C, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh làm việc với Công an thành phố H giải quyết vụ án liên quan đến anh K1. Sau đó anh H2 có gặp bạn là Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1989 ở thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hưng Yên nói nếu biết anh K1 đang ở đâu thì báo cho anh H2 và Công an thành phố H để giải quyết.
Anh Đ nhờ bạn là Lương Văn S1 sinh năm 1990 ở thôn T, xã X, huyện Â, tỉnh Hưng Yên tìm K1 hộ.
Lương Văn S1 có quan hệ là bạn bè với Đào Tiến D sinh năm 1993 ở tôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, D có quen biết Đặng Văn H sinh năm 1997 ở thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên, H là bạn của Nguyễn Duy L1 sinh năm 2002 ở thôn D, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên.
Do chị Lê Hồng N sinh năm 1978 ở thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên có mối quan hệ là cô ruột của anh K1 nên gia đình chị N đã bị Đào Tiến D, Đặng Văn H và Nguyễn Duy L1 thực hiện hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản cụ thể như sau.
Đào Tiến D khai: Do có mối quan hệ quen biết với H và S1 nên khoảng 17 giờ ngày 27/5/2023, S1 gọi điện cho D bảo đến hát Karaoke ở quán K2 ở thôn Đ, xã Đ, huyện Â, tỉnh Hưng Yên, D đồng ý. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, D một mình điều khiển xe ô tô nhãn hiệu KIA K3, màu trắng biển số 89A- 373.41 đi từ khu đô thị E thuộc xã P, huyện V, tỉnh Hưng Yên đến quán K2 để gặp S1. Đến khoảng 01 giờ ngày 28/5/2023, khi D đang ở quán hát thì Đặng Văn H gọi điện cho D qua mạng xã hội Facebook nói “Em bị đánh”, D hỏi “Ai đánh, xuống đây đón anh, anh say rượu, không lái được xe” thì H đồng ý. D gửi định vị vị trí của D qua tin nhắn cho H đồng thời nói lại với S1 là H bị đánh. Khoảng 30 phút sau, H đi T (Không rõ tên hãng taxi và người lái) đến gặp D, khi gặp nhau, D đưa chìa khóa xe ô tô của D cho H điều khiển, còn D ngồi ở ghế phụ bên cạnh ghế lái. Soi cũng điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Tucson, màu đỏ biển số: 30F-135.58 chở khoảng 04 nam thanh niên (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đi cùng D đến thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên, khi đi S1 điều khiển xe ô tô đi trước, H điều khiển xe ô tô đi theo sau. Đến khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm của S1 và H đến điểm dừng xe buýt ven đường Quốc lộ 5A chiều đường H - Hà Nội (đối diện với Trung tâm thương mại N3 thuộc địa phận thôn N, thị trấn N, huyện V) thì dừng lại.
Sau đó, S1 điều khiển xe ô tô Tucson đi về hướng gầm cầu chui chợ N4, còn nam thanh niên lạ mặt điều khiển xe mô tô của L1 đi sau tiếp đến là H điều khiển xe ô tô chở D và L1 đi theo sau cùng. Khi đi đến gầm cầu chui chợ N4 thì S1 và nam thanh niên đi xe mô tô rẽ vào trong thôn N, thị trấn N, còn H đi về hướng Hà Nội rồi đỗ lại ở điểm dừng xe buýt chiều Hải Phòng- Hà Nội đợi. Khi H, D, L1 đợi được một lúc thì phát hiện ra Soi (đầu đội mũ lưỡi trai màu đen, đeo khẩu trang, mặc áo khoác dài tay màu đen, quần màu đen) điều khiển xe mô tô của L1 đi đến dừng bên cạnh xe ô tô của H, H hạ cửa kính xuống thì S1 nói với D: “Bắn nhầm và phải quay lại để bắn tiếp”, đồng thời S1 đưa cho D một khẩu súng màu đen, dài khoảng 60 - 80cm, loại súng một nòng. D cầm và để khẩu súng dưới chân ngay vị trí D đang ngồi ở hàng ghế phụ, S1 quay lại điều khiển xe mô tô đi về hướng thôn N, thị trấn N, huyện V còn H điều khiển xe ô tô chở D và L1 đi theo sau. Khi đến cầu N, D bảo H “Chúng mày đi công việc mang theo cả súng đi bắn mà không che biển số, để biển số xe thế này à” thì H dừng xe lại ở giữa đường,
D lấy hai túi nilon có sẵn trong xe đi ra dùng túi nilong che biển kiểm soát phía sau và phía trước xe ô tô lại, xong lại vào ngồi ở ghế phụ phía trước xe ô tô. Lúc này S1 đang điều khiển xe mô tô đi trước, H điều khiển xe ô tô đi theo phía sau, đi đến trước cổng nhà chị N thì S1 dừng xe lại. Soi lấy 01 khẩu súng màu đen (chưa xác định được loại súng gì) đang để ở giữa giá để đồ xe mô tô, rồi đi đến trước cổng nhà chị N dùng tay bắn vào trong nhà chị N nhưng súng không nổ nên S1 đi ra xe mô tô điều khiển đi qua nhà chị N. Tiếp đến xe ô tô của D từ phía sau đi đến trước cửa nhà chị N thì S1 quay lại, H dừng xe lại, D hạ kính cửa phụ xe ô tô xuống thì S1 bảo “súng không nổ” rồi đưa cho D khẩu súng mà S1 đang cầm. D cầm khẩu súng kiểm tra thì thấy trong nòng súng có 01 viên đạn, D làm động tác gập gập rồi đưa lại súng cho S1. Sau đó H tiếp tục điều khiển xe ô tô đi thẳng, còn S1 điều khiển xe mô tô cầm theo súng quay lại cổng nhà chị N thì dừng lại đỗ xe mô tô vào rìa đường, S1 cầm súng đi bộ đến trước cổng nhà chị N, dí súng qua khe cửa để bắn vào trong nhà chị N nhưng súng vẫn không nổ. Sau đó S1 điều khiển xe mô tô ra chỗ xe ô tô của D, thấy S1 đi đến, D đi ra khỏi xe ô tô để điều chỉnh súng cho S1. Khoảng 02 phút sau, S1 cầm súng quay lại cổng nhà chị N bắn một phát hướng vào trong nhà chị N thì súng nổ, lúc này D cũng cầm súng quay lại định bắn vào nhà chị N2 nhưng nghe thấy tiếng súng của S1 bắn đã nổ thì D không bắn nữa mà quay lại xe ô tô. Sau đó, S1 đi lên đưa khẩu súng cho D, rồi điều khiển xe mô tô đi trước về điểm dừng xe buýt rìa đường Quốc lộ 5A chiều Hải Phòng - Hà Nội, còn H điều khiển xe ô tô chở D và L1 đi theo sau, trên đường đi H dừng xe lại ở đường tháo túi nilong che biển kiểm soát xe ô tô ra. Rồi H tiếp tục điều khiển xe ô tô theo chiều đường H - Hà Nội đi đến điểm dừng xe buýt gặp S1. Sau đó L1 lấy xe mô tô đi về chỗ ở tại thôn Y, xã G, huyện Y, tỉnh Hưng Yên còn H chở S1 và D đến vòng xuyến thị trấn Y, huyện Y. Trên đường đi, S1 bỏ mũ lưỡi trai, khẩu trang và áo khoác mà S1 đang mặc ra rồi hạ cửa kính xe xuống vứt mũ, khẩu trang và áo xuống đường (chưa xác định được vị trí cụ thể), H điều khiển xe ô tô đi đến đến vòng xuyến thị trấn Y thì D trả lại khẩu súng cho S1, S1 cầm hai khẩu súng đi ra khỏi xe của H rồi sang xe Tucson đang đỗ ở rìa đường. Sau đó H ra khỏi xe ô tô để đi về, còn D điều khiển xe ô tô đi theo sau xe ô tô Tucson của S1 về quán K2 ở huyện Â. Sau đó D rủ S1 đi đến thành phố Hà Nội chơi. Sau không rõ S1 đi đâu.
Nguyễn Duy L1 khai nhận: Lượng có mối quan hệ quen biết với H nên khoảng 02 giờ 30 phút ngày 27/5/2023, L1 có nhận được điện thoại của H bảo đi xe mô tô đến Quốc lộ E gần trung tâm thương mại N5 ở thị trấn N, huyện V cho H mượn thì L1 đồng ý. Khoảng 05 phút sau, L1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, không biển số đi từ chợ Đ1 thuộc xã T, huyện V đến gặp H. H bảo L1 đi xe mô tô đến chỗ xe ô tô Tucson biển số 30F-155.58. Lúc này L1 thấy có một nam thanh niên không rõ tên tuổi địa chỉ (đầu đội mũ lưỡi trai màu đen, đeo khẩu trang, mặc áo khoác dài tay màu đen, phía trước ngực và cánh tay có viền màu trắng, mặc quần dài màu đen có viền trắng) từ trong xe ô tô T6 đi ra rồi bảo L1 đưa xe mô tô cho mượn, người này ngồi lên xe mô tô của L1, còn L1
đi bộ đến xe ô tô của H rồi ngồi ở hàng ghế phía sau. Sau đó L1 đi cùng H, D đến nhà chị N. Lượng biết rõ có đối tượng đi xe mô tô của L1 dùng súng bắn làm hỏng cửa của gia đình chị N nhưng không xác định được đối tượng đó là ai.
Quá trình xác minh điều tra thì Đặng Văn H, Lương Văn S1 và Nguyễn Văn Đ đã bỏ trốn không có mặt tại địa phương. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho L1 nhận dạng qua ảnh đối với đối tượng S1 nhưng kết quả Lượng không nhận được vì tại thời điểm xảy ra sự việc là buổi tối, S1 đeo khẩu trang nên L1 không biết đặc điểm khuôn mặt mặt khác sau khi xảy ra sự việc thì H kể lại cho L1 biết chính S1 là người bắn súng vào nhà chị N nên L1 mới biết, giữa L1 và S1 không có mối quan hệ gì nên L1 không biết S1 là ai.
Sau khi sự việc xảy ra Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã tiến hành khám nghiệm hiện trường xác định: Tại mặt bậc thềm thứ hai lên xuống phát hiện 03 viên bi đều hình tròn, bằng kim loại màu xám, đường kính 0,5cm, có vết tiếp xúc biến dạng, làm xước, sáng kim loại. Tại cửa cuốn để lại một vết lõm rách kim loại, kích thước (10 x 05)cm; trên mặt bậc thềm thứ ba để lại nhiều mảnh kính vỡ và 17 viên bi đều hình tròn, bằng kim loại màu xám, đường kính 0,5cm, có vết tiếp xúc biến dạng, làm xước, sáng kim loại; Trên mặt bậc thang số 3 để lại một miếng nhựa hình trụ tròn dài 06 cm, một đầu thủng, vết thủng hình tròn làm rách nhựa. Khung cửa kính cường lực cao 2,82m, rộng 3,55m, dày 01cm để lại một vết vỡ kính, kích thước (13 x 19) cm và rạn vỡ theo nhiều hướng, kính vỡ theo chiều từ ngoài vào trong. Trên nền nhà vương vãi nhiều mảnh kính vỡ nhỏ. Cơ quan điều tra đã thu giữ 03 viên bi đều hình tròn, bằng kim loại màu xám, 17 viên bi đều hình tròn, bằng kim loại màu xám và 01 miếng nhựa hình trụ tròn dài 06 cm, một đầu thủng, vết thủng hình tròn làm rách nhựa (niêm phong ký hiệu “HT1”).
Ngày 04/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Lệnh khám xét số: 07 khám xét chỗ ở của Nguyễn Duy L1 tại thôn D, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
sản huyện V, kết luận:
“- Thiệt hại 01 (một) cánh cửa kính cường lực, kích thước (107 x 234 x 01) cm, tại vị trí cách nền nhà 1,8m có một vết vỡ kính, kích thước (13 x 19) cm và rạn vỡ theo nhiều hướng, tại thời điểm ngày 28/5/2023 có giá trị là: 800.000 đồng/01m² và tổng trị giá của 01 cánh cửa là (1,07 x 2,34) m = 2,503m² x 800.000 đồng = 2.002.400 đồng (Hai triệu không trăm linh hai nghìn bốn trăm đồng).
- Thiệt hại 01 (một) cửa cuốn bằng kim loại, màu xám, nhãn hiệu Netdoor, kích thước (350 x 280 x 01) cm, tại vị trí cách mép cửa cuốn về hướng tây 02 m, cách mặt nền nhà 1,84m có một vết lõm và rách kim loại, kích thước (10 x 05)cm, tại thời điểm ngày 28/5/2023 có giá trị là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).
- Thiệt hại 01 (một) tấm nhựa màu trắng, kích thước (160 x 60 x 0,1cm), tại vị trí cách trụ cổng về hướng tây 1,2m, cách mặt đất 1,5m có vết rách nhựa,
kích thước (12 x 14cm), tại thời điểm ngày 28/5/2023 có giá trị là 10.000 đồng (Mười nghìn đồng).
Tổng giá trị tài sản cần định giá là: 2.512.400 đồng (Hai triệu năm trăm mười hai nghìn bốn trăm đồng).”
Ngày 30/5/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Quyết định Trưng cầu giám định tại V - Bộ C2 đối với các mẫu vật niêm phong ký hiệu “HT1” thu giữ tại hiện trường. Ngày 17/7/2023, V - Bộ C2 ra Bản kết luận giám định số: 4066/KL-KTHS, kết luận:
“- Các mẫu vật ký hiệu HT1 gửi giám định là thành phần nhồi (đóng) được trong đạn ghém cỡ 12. Đạn ghém cỡ 12 thuộc súng săn, không phải vũ khí quân dụng, sử dụng bắn được bằng súng săn hoặc súng tự chế (thuộc vũ khí quân dụng) có ổ chứa đạn lắp được đạn ghém cỡ 12. Khi sử dụng các loại súng này bắn đạn vào cơ thể người gây chết hoặc bị thương.
- Không đủ cơ sở kết luận các mẫu vật gửi giám định do bao nhiêu khẩu súng bắn ra”.
Ngày 19/7/2023, V - Bộ C2 ra Bản kết luận giám định số: 4083/KL-KTHS, kết luận: “trong các mẫu vật gửi giám định đều tìm thấy dấu vết của thuốc súng và cùng một loại thuốc súng.”
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã sao lưu, trích xuất các tệp video ghi lại nội dung diễn biến vụ việc. Ngày 10/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu giám định hình ảnh các tập video trên. Tại Bản kết luận giám định số: 261 ngày 27/11/2023 của Phòng K3 - Công an tỉnh H đối với 18 tệp video trên như sau:
“- Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 18 (Mười tám) file video trong mẫu niêm phong ký hiệu Al gửi giám định.
Trích xuất hình ảnh phương tiện, những người có mặt trong 18 (Mười tám) tệp video và phân tích diễn biến hành vi, mô tả đặc điểm của các đối tượng, các đồ vật, tài sản các đối tượng mang theo (Có bản ảnh gồm: 28 tờ giấy A4 kèm theo).”
Như vậy quán trình điều tra đã xác định được Nguyễn Tiến D1, Đặng Văn H và Nguyễn Duy L1 đã giúp sức cho đối tượng đội mũ lưỡi trai màu đen, đeo khẩu trang, mặc áo khoác dài tay màu đen, phía trước ngực và cánh tay có viền màu trắng, mặc quần dài màu đen có viền trắng dùng súng bắn làm hư hỏng cửa của gia đình chị N gây thiệt hại 2.512.400 đồng.
Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia K3 màu trắng, biển số 89A-373.41 D1 sử dụng đi thực hiện hành vi phạm tội ngày 20/7/2023 anh Nguyễn Văn Q1 sinh năm 1991 ở thôn N, xã C, huyện K, tỉnh Hưng Yên giao nộp chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA K3, màu trắng, biển số: 89A- 373.41. Cơ quan điều tra đã làm rõ: chủ đăng ký chiếc xe mô tô trên là chị Đặng Thị Lệ H5 (vợ Đào Tiến D). Ngày 14/3/2023, chị H5 và D vay số tiền 440.000.000 đồng và thế chấp chiếc xe ô tô trên tại Ngân hàng thương mại cổ phần T7 (T8). Ngày 19/7/2023, chị H5 và D đã ký gửi chiếc xe ô tô trên cho anh Nguyễn Văn Q1 là chủ cửa hàng G ô tô “Việt
Anh A” lấy số tiền 260.000.000 đồng rồi nhờ anh Q1 bán chiếc xe trên nếu được giá để chị H5 và D thanh toán trả nợ Ngân hàng lấy giấy đăng ký gốc đưa cho anh Q1, thì anh Q1 đồng ý, tuy nhiên hiện nay vợ chồng D chưa thanh toán trả nợ cho Ngân hàng.
Ngày 29/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã thu giữ của Nguyễn Duy L1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu hồng, bên trong máy lắp số thuê bao 0345580619. Qua điều tra xác định L1 không sử dụng vào việc phạm tội. Còn chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphong 6S Plus Lượng sử dụng liên lạc với H đã làm mất nên không thu giữ được.
Đối với chiếc xe ô tô Tucson biển số 30F-135.58, D khai Soi sử đụng đi thực hiện hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản nhà chị N. Ngày 12/12/2023 anh Trần Văn H6 sinh năm 1988 ở thôn B, xã Q, huyện Â, tỉnh Hưng Yên đã giao nộp 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Tucson màu đỏ biển số : 30F-135.58 cho Cơ quan CSĐT- Công an huyện V. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của vợ chồng anh H6. Anh H6 cho S1 mượn chiếc xe mô tô trên làm phương tiện đi lại nhưng không biết S1 đi đâu, sử dụng vào mục đích gì.
Đối với 01 phong bì thư niêm phong số: 4066/KL-KTHS(MT) ngày 17/7/2023 của V - Bộ C2; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu hồng, bên trong máy lắp số thuê bao 0345580619; 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA K3, màu trắng, BKS: 89A- 373.41; 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Tucson, màu đỏ, BKS: 30F-135.58, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã nhập kho vật chứng của Công an huyện V chờ xử lý theo quy định.
Đối với chiếc xe mô tô Honda Wave màu đen không gắn biển số mà L1 cùng đồng bọn sử dụng vào việc phạm tội. L1 khai nhận: L1 tự lấy xe tại chỗ của anh Hoàng Văn C1 sinh năm 1991 ở thôn G, xã G, huyện Y. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội xong thì L1 đã trả lại chiếc xe trên cho anh C1. Anh C1 không biết việc L1 cùng đồng bọn sử dụng chiếc xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã nhiều lần đến chỗ ở của anh Hoàng Văn C1 để triệu tập nhưng C1 không có mặt tại địa phương nên chưa thu giữ được chiếc xe mô tô trên và chưa làm việc được với anh C1.
Quá trình điều tra chị N còn khai, trước thời điểm chị bị D cùng đồng bọn bắn vào nhà làm hư hỏng tài sản thì có số điện thoại 0394.648.xxx và 0565308942 đã gọi, nhắn tin đe dọa chị N. Ngày 08/12/2023 và 11/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã ra Lệnh thu giữ điện tín để làm rõ chủ thuê bao và nhật ký nội dung giao dịch, cụ thể như sau: Thuê bao của số điện thoại: 0394.648.xxx đăng ký tên chị Sòng Thị L2, sinh ngày 01/01/2005, địa chỉ: bản P, xã S, huyện P, tỉnh Sơn La. Hiện chị L2 không có mặt tại địa phương. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện V tiếp tục xác minh giải quyết sau .
Số thuê bao 0565308942 đăng ký tên chị Trần Thị Vân A1, sinh ngày 11/11/1985, địa chỉ thôn L, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Cơ quan CSĐT Công an huyện V tiến hành làm việc với chị Vân A1 thể hiện: Từ trước đến nay chị Vân A1 không đăng ký, không sử dụng số thuê bao di động trên và cũng
không cho ai mượn giấy tờ tùy thân của mình để làm thủ tục đăng ký số thuê bao di động. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện V không có căn cứ để xử lý đối với chị Vân A1.
Đối với Lê Văn H7, Lê Hồng K1 và Nguyễn Văn Đ, Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập để làm việc nhưng K1, H7, Đ đều không có mặt tại địa phương nên tiếp tục điều tra làm rõ giải quyết sau cùng một số đối tượng có liên quan.
Về trách nhiệm dân sự: Chị N yêu cầu các bị can phải bồi thường số tiền 5.000.000 đồng. Ngày 26/02/2024, chị Đặng Thị Lệ H5 (vợ bị can D) đã tự nguyện thay D bồi thường cho chị N số tiền 5.000.000 đồng. Chị N đã nhận đủ số tiền trên và tự nguyện không có yêu cầu đề nghị gì. Chị H5 cũng không yêu cầu đề nghị gì.
Ngày 28/02/2024 Cơ quan CSĐT- Công an huyện V đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án và bản Kết luận điều tra vụ án hình sự đến Viện kiểm sát huyện V đề nghị truy tố Đào Tiến D, Nguyễn Duy L1 về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự. Ngày 28/3/2024 Viện kiểm sát huyện Văn Lâm đã ban hành Cáo trạng truy tố Đào Tiến D, Nguyễn Duy L1 về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Đối với Đặng Văn H sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Quyết định truy nã số 07 đối với H. Ngày 01/4/2024 Đặng Văn H đến Công an huyện V đầu thú.
Quá trình điều tra H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Ngoài ra H còn khai: Khoảng 16 giờ ngày 14/5/2023, khi H đang ở tại nhà trọ của Hoàng Văn C1, sinh năm 1991 ở thôn V, xã Đ, huyện P, tỉnh Hưng Yên, thuê trọ ở thôn Y, xã G, huyện Y, tỉnh Hưng Yên thì H thấy anh C1 sử dụng điện thoại Nokia, màu xám đe, gọi điện nói chuyện với ai đó thì H thấy C1 gọi người này là cô và nói gia đình cô phải thu xếp trả tiền nợ ngay cho cháu (Tức là C1), còn không chúng cháu lên nhà thì nhà cô phải chịu hậu quả, sau đó C1 tắt cuộc gọi. Đến khoảng hơn 17 giờ cùng ngày, C1 rủ H đi đến thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên để tìm nhà người đang nợ tiền mà C1 vừa gọi điện lúc trước thì H đồng ý. Sau đó, C1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng-vàng (không nhớ biển số) chở H đi đến thị trấn N, đi đến cầu vượt N, khi xuống chân cầu thì rẽ phải đi vào trục đường có hàng cây nhãn hai bên đường, đi qua Ủy ban nhân dân thị trấn N, đi thẳng đến cầu N, khi qua cầu N thì rẽ phải đi vào trong thôn N, đi được khoảng 250m thì C1 đi xe với tốc độ chậm, rồi chỉ tay hướng vào một ngôi nhà ba tầng, trước nhà cửa cổng làm bằng inox, loại bốn cánh (Chính là nhà chị Lê Hồng N), đồng thời C1 nói cho H biết ngôi nhà này có người đang nợ tiền (Cụ thể nhà của ai và ai nợ tiền, nợ tiền như thế nào với C1 thì H không biết), rồi C1 quay ngược xe đi về hướng cầu N đi ra Quốc lộ E đi về thôn Y, xã G, huyện Y. Khi về đến nhà trọ của C1 thì H đi về tại thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Khoảng 01 giờ ngày 28/5/2023, khi H đang ở thôn Y, xã G, huyện Y thì Hoàng Văn C1 gọi điện thoại vào số thuê bao 0399713559 được lắp trong chiếc
điện thoại Iphone 12 Pro, màu trắng của H (Chưa xác định được số thuê bao của C1 gọi đến cho H) bảo H “Gọi cho D ruồi, đi cùng nó lên trên N, chỉ đường cho nó giúp anh”, H nói “Vâng”. Ngay sau đó, H gọi điện thoại qua mạng xã hội Facebook cho D “anh C1 bảo em điện cho anh đi việc trên Như Quỳnh”, D nói “Thế mày đang ở đâu”, H nói “Thế anh đón em ở chỗ nào hay em đi đến vòng xuyến Y để đợi”, D nói “ừ”. Mục đích H nói câu nói trên là để chêu đùa D, tiếp đến D nói với H “Gọi cho thằng nào chuẩn bị xe máy và áo mưa”, H nói “Vâng”. Sau đó, H đi xe taxi từ thôn Y đi đến vòng xuyến thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên đợi. Khoảng 10 phút sau, H gọi điện qua mạng xã hội Facebook cho Nguyễn Duy L1 nói “Ở đâu đấy, mang cái xe máy và áo mưa đi việc cho anh C1, anh C1 bảo, cứ đi lên N đi, đi từ từ thôi”, L1 nói “Vâng”, rồi tắt cuộc gọi. Khoảng 15 phút sau, D điều khiển xe ô tô nhãn hiệu KIA K3, màu trắng, biển số xe H không nhớ (Là xe ô tô của D) đi cùng với một chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Tucson, màu đỏ, biển kiểm soát H không nhớ đến đón H tại vòng xuyến thị trấn Y. Sau đó, H vào xe ô tô của D và ngồi ở hàng ghế phụ phía trước, rồi D điều khiển xe chở H đi đến thị trấn N, còn xe T6 đi theo sau xe D.
Đào Tiến D khai nhận: Ngày 28/5/2023, khi H gọi điện cho D thì H nói “Em bị đánh”, D nói “Ai đánh, xuống đây đón anh, anh say rượu không lái xe được” thì H đồng ý, rồi D gửi định vị của D qua điện thoại cho H biết. Khoảng 30 phút sau, H đi taxi đến gặp D. Khi gặp H thì D đưa chìa khóa xe ô tô của D cho H điều khiển, còn D ngồi ở ghế phụ phía trước, rồi H điều khiển xe chở D đến thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Ngoài ra, H không đến việc trao đổi giữa C1 với H.
Nguyễn Duy L1 khai nhận: Ngày 28/5/2023, khi H gọi điện thoại cho L1 thì H hỏi L1 “Em đang ở đâu đấy, mang xe lên Như Quỳnh cho anh mượn”, L1 trả lời “Em đang ở chợ Đ1 và anh ở chỗ nào Như Q2 để em đến”, H nói “Em cứ đi thẳng đường Quốc lộ 5 đi lên Hà Nội đi đến N, anh đang đứng ở rìa đường”. Ngoài ra, H không trao đổi việc gì liên quan đến Hoàng Văn C1.
Do lời trình bày của Đặng Văn H mâu thuẫn với Đào Tiến D và Nguyễn Duy L1. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho các bên đối chất nhưng các bên vẫn giữ nguyên quan điểm.
Đối với việc H khai Hoàng Văn C1 là người chỉ nhà chị N và C1 nói đây là nhà nợ tiền cho H biết, Cơ quan CSĐT- Công an huyện V đã nhiều lần triệu tập nhưng C1 không có mặt tại địa phương. Ngày 09/5/2024, Cơ quan CSĐT- Công an huyện ra quyết định truy tìm người số 741 đối với Hoàng Văn C1. Đến nay, Cơ quan CSĐT Công an huyện V chưa tìm, làm việc được với C1. Cơ quan CSĐT Công an huyện V điều tra làm rõ giải quyết sau.
Đối với Lương Văn S1 sau khi thực hiện hành vi đã bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã tiến hành cho D và H nhận dạng đối với S1. Kết quả cả hai bị can đều xác định S1 đã thực hiện hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản cùng H và D nên Cơ quan CSĐT- Công an huyện V đã khởi tố đối với S1 về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản và ra quyết định truy nã khi bắt được S1 sẽ xử lý sau.
Cáo trạng số: 93/CT-VKS-VL ngày 25/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Đặng Văn H về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 điều 178 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
*Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố; đồng thời đề nghị HĐXX:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn H phạm tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản".
Về điều luật áp dụng và hình phạt:
- Áp dụng khoản 1 Điều 178; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; Khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng Hình sự đối với bị cáo Đặng Văn H;
Xử phạt bị cáo Đặng Văn H từ 1 năm đến 1 năm 3 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 2 năm đến 2 năm 6 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.
Giao bị cáo cho UBND xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại nên hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của các bị hại, của người liên quan, của người làm chứng, của các hình ảnh trích xuất được thu giữ cùng các tài liệu khác Cơ quan CSĐT thu thập có trong hồ sơ
vụ án cũng như nội dung Bản cáo trạng mà vị đại diện Viện kiểm sát đã nêu và đã có đủ cơ sở xác định: “Khoảng 03 giờ 20 phút ngày 28/5/2023 tại cửa nhà chị Lê Hồng N ở thôn N, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên, ĐàoTiến Dũng, Nguyễn Duy L1, Đặng Văn H và Lương Văn S1 cùng một số đối tượng khác đã thực hiện hành vi dùng súng tự chế bắn vào cửa nhà chị N gây hư hỏng bẹp lõm một góc cửa cuốn và vỡ cửa kính cường lực, thiệt hại tài sản tổng trị giá là 2.512.400đ. Sau đó thì bị phát hiện. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, H bỏ trốn khỏi địa phương, sau đó ra đầu thú, Đào Tiến D và Nguyễn Duy L1 đã bị truy tố bằng bản Cáo trạng số 36 ngày 28/3/2024 của Viện kiểm sát huyện V. Lương Văn S1 bỏ trốn đã bị ra quyết định truy nã.”. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm truy tố bị cáo về tội danh như trên là phù hợp pháp luật.
[3] Xét tính chất và vai trò của bị cáo trong từng hành vi thực hiện tội phạm:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an; ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, chính trị tại địa phương. Vì vậy cần phải nghiêm trị đối với bị cáo. Có vậy mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo và cũng là bài học giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
Trong vụ án này, bị cáo H thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm tích cực, là người trực tiếp điều khiển phương tiện chở các bị cáo khác đi thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy HĐXX sẽ căn cứ vào tính chất, mức độ của tội phạm của bị cáo để quyết định mức hình phạt tương xứng.
Tuy nhiên khi lượng hình, HĐXX cũng cân nhắc: Bị cáo là người có nhân thân tốt; Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo đã tự giác ra đầu thú; Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; Vì vậy hội đồng xét xử xem xét và giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Đồng thời Hội đồng xét xử xét thấy chỉ cần xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng là phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định. Để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, nay HĐXX sẽ miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo .
[5] Về trách nhiệm dân sự và các biện pháp tư pháp: Đã được giải quyết theo Quyết định tại bản án số 90/2024/HS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Văn Lâm. Vì vậy Hội đồng xét xử sẽ không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án xét xử đối với bị cáo Đặng Văn H tại phiên toà hôm nay.
[6] Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề cần giải quyết trong vụ án là phù hợp nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”
[2] Về điều luật áp dụng và hình phạt:
- Căn cứ khoản 1 Điều 178; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; Khoản 4 Điều 328 Bộ luật tố tụng Hình sự đối với bị cáo Đặng Văn H
Xử phạt bị cáo Đặng Văn H 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.
Giao bị cáo cho UBND xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[3] Về án phí: Bị cáo Đặng Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Nam Thắng |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
||
|
Nguyễn Nam Thắng |
Bản án số 97/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN về cố ý làm hư hỏng tài sản
- Số bản án: 97/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn H phạm tội cố ý làm hư hỏng tài sản
