Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN CHÂU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 97/2023/HS-ST

Ngày 28-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Đắc Nghĩa;
  2. Ông Nguyễn Văn Thả.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Đức – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 81/2023/TLHS-ST ngày 28 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Trương Văn T, sinh ngày 03-10-2000 tại tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1972; vợ, con: Chưa có. Tiền án: Ngày 11-12-2020, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, chấp hành xong án phí ngày 09-4-2021, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18-9-2021 nhưng chưa chấp hành hình phạt bổ sung số tiền 30.000.000 đồng (chưa được xóa án tích); tiền sự: Không có. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21-5-2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Trần Văn C1, sinh ngày 09-8-2003 tại tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1969; vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không có;

Nhân thân:

Ngày 27-11-2019, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phí, chấp hành xong hình phạt tù ngày 13-9-2020.

Ngày 21-3-2022, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 01 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong án phí ngày 16-6-2022, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18-01-2023. Do thời điểm phạm tội và bị xét xử 02 Bản án nêu trên, bị cáo Trần Văn C1 chưa đủ 18 tuổi nên được xem là không có tiền án.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21-5-2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  1. Họ và tên: Trần Văn L (Đ), sinh ngày 21-4-2003 tại tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Q, sinh năm 1972 và bà Phan Kim K, sinh năm 1977; vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không có;

Nhân thân: Ngày 29-9-2021, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong án phí ngày 01-12-2021, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26-8-2022. Do thời điểm phạm tội và bị xét xử, bị cáo Trần Văn L chưa đủ 18 tuổi nên được xem là không có tiền án.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21-5-2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  1. Họ và tên: Nguyễn Phước S (Sang C3), sinh ngày 14-9-2003 tại tỉnh Tây Ninh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phước P, sinh năm 1971 và bà Lê Thị T2 (đã chết); vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không có;

Nhân thân: Ngày 29-9-2021, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong án phí ngày 10-5-2022, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26-10-2022. Do thời điểm phạm tội và bị xét xử, bị cáo Nguyễn Phước S (Sang C3) chưa đủ 18 tuổi nên được xem là không có tiền án.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21-5-2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

  1. Họ và tên: Diệp Văn V, sinh ngày 04-02-2003 tại tỉnh Thái Nguyên; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Diệp Văn T3 (đã chết) và bà Diệp Thị S1, sinh năm 1972; vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21-5-2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Nguyễn Phi B, sinh năm 1998; nơi cư trú: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
  • Chị Nguyễn Thị Thu C4, sinh năm 1997; nơi cư trú: Ấp F, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
  • Anh Lê Văn N, sinh năm 1998; nơi cư trú: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ ngày 11-02-2023, Trương Văn T cùng Trần Văn C1, Trần Văn L, Diệp Văn V, Nguyễn Phước S, Nguyễn Hùng D sinh ngày 08-12-2003, Lâm Hải T4, sinh ngày 12-01-2005, Nguyễn Tuấn K1 sinh ngày 17-11-2003 đến quán nhậu “Huynh Đệ” trên địa phận ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh để uống rượu. Lúc này, trong quán có anh Nguyễn Phi B, sinh năm 1998 cùng với chị Nguyễn Thị Thu C4, sinh năm 1997, Trần Ngọc Tân sinh năm 2001, Nguyễn Đình N1 sinh năm 2000 cũng đang ngồi ăn uống ở bàn bên cạnh. Trong lúc uống rượu, do có quen biết từ trước với anh B nên VK1, mỗi người cầm 01 ly rượu qua bàn của anh B mời uống rượu, khi anh B vừa uống với VK1 mỗi người 01 ly rượu thì T cũng cầm ly rượu qua mời anh B. Anh B nói mới uống xong nên không uống nữa. Lúc này T nói với anh B “Mày khi dễ tao hay sao không uống”, nói xong Trương Văn T đập ly rượu xuống bàn và cầm ghế nhựa giơ lên đánh anh Nguyễn Phi B 2-3 cái nhưng được chị Nguyễn Thị Thu C4 can ngăn. Thấy vậy, nhóm của Trương Văn T gồm: Trương Văn T, Trần Văn C1, Trần Văn L, Nguyễn Phước S, Diệp Văn V bắt đầu lao vào đánh anh Nguyễn Phi B, sử dụng ghế nhựa, đồ dùng của quán ném loạn xạ, đánh nhau trong quán, đập phá đồ đạc của quán, làm náo loạn quán ăn dẫn đến khách đang ăn ở bàn khác cũng bỏ ra về ngay sau sự việc xảy ra, gây mất an ninh trật tự tại khu vực đông dân cư mặc dù các bị cáo đã được nhiều người can ngăn. Cụ thể: Trương Văn T đập ly rượu, dùng ghế nhựa đánh anh Nguyễn Phi B; Trần Văn C1 cầm viên gạch ống có sẵn ở dưới bàn của C1 đang ngồi đi vòng qua phía sau lưng của anh B đánh 2-3 cái vào vùng đầu và mặt của anh B. Khi viên gạch bị rớt xuống đất, C1 tiếp tục dùng tay và chân đấm, đá 3-4 cái vào người của anh B; Trần Văn L đi đến cầm ghế nhựa ném vào anh B, dùng khuỷ tay đánh vào lưng của anh B, sau đó cầm nồi đang đựng cháo trên bàn đánh vào người anh B, làm cháo nóng văng vào mặt anh B và cổ, mặt chị C4 và tiếp tục dùng ống đựng đũa của quán ném vào nhóm của anh Nguyễn Phi B; Diệp Văn V đi đến dùng tay đánh 02 cái vào bụng anh B; Nguyễn Phước S dùng tay đấm vào đầu của anh B 01 cái và dùng chén trên bàn ném vào nhóm của anh Nguyễn Phi B nhưng được mọi người căn ngăn.

Đối với Nguyễn Hùng D, Lâm Hải T4, Nguyễn Tuấn K1 đi cùng với nhóm của Trương Văn T nhưng bỏ ra ngoài đứng không tham gia đánh nhau và không tham gia gây rối trật tự công cộng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh không xử lý là đúng quy định của pháp luật.

Ngày 13-02-2023, anh Nguyễn Phi B và chị Nguyễn Thị Thu C4 có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với những người đã gây thương tích cho mình.

  • Kết luận giám định pháp y về thương tích số 59/KLTTCT-TTPYTN ngày 21-3-2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận đối với thương tích của Nguyễn Phi B tỷ lệ tổn thương cơ thể là 04%.
  • Kết luận giám định pháp y về thương tích số 60/KLTTCT-TTPYTN ngày 27-3-2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận đối với thương tích của Nguyễn Thị Thu C4 tỷ lệ tổn thương cơ thể là 06%.

Ngày 13-5-2023, Chủ tịch UBND xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh có Công văn số 453/UBND, về việc yêu cầu xử lý nhóm thanh niên sử dụng hung khí và có hành vi đánh nhau, đập phá, gây rối trật tự công cộng tại địa phương ngày 11-02-2023.

Ngày 15-5-2023, anh Nguyễn Phi B và chị Nguyễn Thị Thu C4 đã làm đơn bãi nại và rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với Trương Văn T, Trần Văn C1, Trần Văn L, Nguyễn Phước S, Diệp Văn V về hành vi cố ý gây thương tích cho anh Nguyễn Phi B và chị Nguyễn Thị Thu C4.

Tại Cơ quan điều tra Trương Văn T, Trần Văn C1, Trần Văn L, Nguyễn Phước S, Diệp Văn V đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng còn tạm giữ: 01 (một) cục gạch ống có 04 lổ, kích thước 17,5cm x 7,6cm x 7,6cm; 01 (một) cái nồi bằng Inox, đường kính 24,5cm, sâu 7,5cm, bị mất 01 bên tay cầm; 01 (một) cái ghế nhựa bành màu đỏ, phía sau phần tựa lưng có chữ DUY TAN; 01 (một) chân ghế sau bên phải bị gãy.

Về kê biên tài sản: Các bị cáo không có tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh không tiến hành kê biên.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Trương Văn T, Trần Văn C1, Trần Văn L, Nguyễn Phước S, Diệp Văn V đã tự nguyện bồi thường cho anh Nguyễn Phi B số tiền 10.000.000 đồng; chị Nguyễn Thị Thu C4 số tiền 50.000.000 đồng; anh Lê Văn N (chủ quán H1) số tiền 2.000.000 đồng nên anh B, chị C4, anh N không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm.

Bản cáo trạng số 86/CT-VKSTC ngày 27 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố các bị cáo Trương Văn T, Trần Văn C1, Trần Văn L, Nguyễn Phước S, Diệp Văn V về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố tất cả các bị cáo Trương Văn T, Trần Văn C1, Trần Văn L, Nguyễn Phước S, Diệp Văn V về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trương Văn T từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn C1 từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn L (Đùn) từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Phước S (Sang C3) từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Diệp Văn V từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
  • Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận anh Nguyễn Phi B, chị Nguyễn Thị Thu C4, anh Lê Văn N (chủ quán Huynh Đệ) không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm.
  • Về kê biên tài sản: Các bị cáo không có tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh không tiến hành kê biên.

Các bị cáo Trương Văn T, Trần Văn C1, Trần Văn L (Đùn), Nguyễn Phước S (Sang C), Diệp Văn V thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố và không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo Trương Văn T, Trần Văn C1, Trần Văn L (Đùn), Nguyễn Phước S (Sang C), Diệp Văn V xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tại phiên tòa, anh Nguyễn Phi B, chị Nguyễn Thị Thu C4 và anh Lê Văn N vắng mặt có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt. Xét thấy, lời khai của anh B, chị C4, anh N đã có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa nên việc vắng mặt của anh B, chị C4, anh N không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt anh B, chị C4, anh N.

[3] Về hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện:

[3.1] Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa các bị cáo Trương Văn T, Trần Văn C1, Trần Văn L (Đùn), Nguyễn Phước S (Sang C), Diệp Văn V đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: Vào khoảng 21 giờ ngày 11-02-2023, tại quán nhậu “Huynh Đệ” trên địa phận ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, các bị cáo Trương Văn T, Trần Văn C1, Trần Văn L, Nguyễn Phước S, Diệp Văn V chỉ vì bị từ chối khi mời rượu mà các bị cáo đã có hành vi tụ tập, có hành vi phá phách dùng ghế nhựa, nồi cháo nóng, ống đựng đũa, chén bát của quán, cục gạch ống đánh nhau, gây rối trật tự công cộng và gây thương tích cho anh Nguyễn Phi B và chị Nguyễn Thị Thu C4 đi cùng nhóm của anh Nguyễn Phi B. Vụ việc xảy ra tại khu vực đông dân cư, tại quán có nhiều người đang ăn uống phải bỏ ra về, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của quán. Đặc biệt, sau ngày xảy ra vụ việc, không có bất kỳ người khách nào đến quán ăn uống, kinh doanh ế ẩm dẫn đến quán phải đóng cửa nghỉ bán gần 01 tháng (bút lục 165-166); gây ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường và hoạt động kinh doanh của những người dân xung quanh khu vực, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội của địa phương, nên ngày 13-5-2023, Chủ tịch UBND xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh có Công văn số 453/UBND, về việc yêu cầu xử lý nghiêm nhóm thanh niên có hành vi tụ tập, đánh nhau, gây rối trật tự công cộng tại địa phương diễn ra vào ngày 11-02-2023. Hành vi phạm tội của các bị cáo Trương Văn T, Trần Văn C1, Trần Văn L (Đùn), Nguyễn Phước S (S cơm), Diệp Văn V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” với tình tiết định khung hình phạt “Dùng...hung khí hoặc có hành vi phá phách” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.

Do đó, bản Cáo trạng số 86/CT-VKSTC ngày 27 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố đối với các bị cáo Trương Văn T, Trần Văn C1, Trần Văn L (Đùn), Nguyễn Phước S (Sang C), Diệp Văn V là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3.2] Đối với hành vi đánh nhau gây thương tích cho anh Nguyễn Phi B với tỷ lệ tổn thương cơ thể 04% và chị Nguyễn Thị Thu C4 với tỷ lệ tổn thương cơ thể 06%. Ngày 15-5-2023, anh Nguyễn Phi B và chị Nguyễn Thị Thu C4 đã có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về hành vi cố ý gây thương tích đối với các bị cáo Trương Văn T, Trần Văn C1, Trần Văn L, Nguyễn Phước S, Diệp Văn V nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh không khởi tố đối với các bị cáo nêu trên về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng quy định của pháp luật.

[3.3] Đối với Nguyễn Hùng D, Lâm Hải T4, Nguyễn Tuấn K1 không tham gia đánh nhau và không tham gia gây rối trật tự công cộng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh không xử lý hình sự là đúng quy định của pháp luật.

[3.4] Đối với hành vi các bị cáo đánh nhau làm hư hỏng tài sản của anh Lê Văn N, do giá trị tài sản bị hư hỏng không lớn nên anh N không yêu cầu định giá và xử lý.

[4] Về tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

[4.1] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, làm cho cuộc sống yên ổn của người dân bị phá vỡ, khiến cho một bộ phận không nhỏ người dân hoang mang, lo lắng nên cần xử lý nghiêm đối với các bị cáo để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

[4.2] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trương Văn T là người đã có tiền án, chưa được xóa án tích. Do đó, lần thực hiện hành vi phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4.3] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, tất cả các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tự nguyện sửa chữa, khắc phục hậu quả nên tất cả các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử xem xét vai trò của từng bị cáo, cụ thể:

[5.1] Xét về vai trò đồng phạm trong vụ án: Các bị cáo là người thực hiện hành vi phạm tội gây mất trật tự, trị an xã hội tại địa phương, thực hiện hành vi phạm tội độc lập với nhau, không có sự bàn bạc, hứa hẹn trước thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các bị cáo thực hiện tội phạm với vai trò đồng phạm giản đơn để xem xét mức hình phạt.

[5.2] Do các bị cáo không có phân công vai trò của từng bị cáo khi thực hiện tội phạm nên các bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện.

Trong vụ án này, bị cáo Trương Văn T chỉ vì lý do mời rượu không uống mà có hành vi đánh nhau dẫn đến xảy ra sự việc gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương và bị cáo T có 01 tiền án chưa được xóa án tích; bị cáo Trần Văn C1 không có bất kỳ mâu thuẫn gì với nhóm của anh B nhưng bị cáo giúp sức tích cực cho bị cáo T, dùng cục gạch ống là hung khí đánh vào đầu anh B, dùng tay, chân đấm đá liên tục vào người anh B, nên bị cáo T, bị cáo C1 phải chịu mức hình phạt ngang nhau và cao hơn các bị cáo còn lại.

Đối với các bị cáo Trần Văn L (Đùn), Nguyễn Phước S (Sang C), Diệp Văn V có vai trò giúp sức ngang nhau. Tuy nhiên, bị cáo Trần Văn L (Đ) đã bị xử phạt 01 năm 03 tháng tù về hành vi “Cố ý gây thương tích”; bị cáo Nguyễn Phước S (Sang C3) bị phạt 03 tháng tù về hành vi “Cố ý gây thương tích”, mặc dù thời điểm phạm tội và bị xét xử đối với các bị cáo Trần Văn L (Đùn), Nguyễn Phước S (Sang C3) khi chưa đủ 18 tuổi nên không xem là có tiền án nhưng các bị cáo có nhân thân xấu. Do vậy, các bị cáo Trần Văn L (Đùn), Nguyễn Phước S (Sang C) phải chịu mức hình phạt thấp hơn bị cáo Trương Văn T, Trần Văn C1 nhưng cao hơn bị cáo Diệp Văn V do bị cáo Diệp Văn V có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

[6] Về hình phạt áp dụng:

Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

Đối với bị cáo Diệp Văn V có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện sửa chữa, khắc phục thiệt hại theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; phạm tội lần đầu và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự quyết định xử phạt bị cáo Diệp Văn V dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa thể hiện các bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cục gạch ống có 04 lổ, kích thước 17,5cm x 7,6cm x 7,6cm; 01 (một) cái nồi bằng Inox, đường kính 24,5cm, sâu 7,5cm, bị mất 01 bên tay cầm; 01 (một) cái ghế nhựa bành màu đỏ, phía sau phần tựa lưng có chữ DUY TAN; 01 (một) chân ghế sau bên phải bị gãy là vật chứng không còn giá trị sử dụng.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận các bị cáo đã bồi thường cho anh Nguyễn Phi B số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng; bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thu C4 số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng; bồi thường cho anh Lê Văn N (chủ quán H1) số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng nên anh B, chị C4, anh N không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm b, s, khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trương Văn T từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21-5-2023.
  2. Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm b, s, khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn C1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21-5-2023.
  3. Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm b, s, khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn L (Đùn) 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21-5-2023.
  4. Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm b, s, khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Phước S (Sang C) 02 (hai) năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21-5-2023.
  5. Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 318; điểm b, s, khoản 1 Điều 51, Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Diệp Văn V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21-5-2023.
  6. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận anh Nguyễn Phi B, chị Nguyễn Thị Thu C4, anh Lê Văn N không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại.
  7. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cục gạch ống có 04 lổ, kích thước 17,5cm x 7,6cm x 7,6cm; 01 (một) cái nồi bằng Inox, đường kính 24,5cm, sâu 7,5cm, bị mất 01 bên tay cầm; 01 (một) cái ghế nhựa bành màu đỏ, phía sau phần tựa lưng có chữ DUY TAN; 01 (một) chân ghế sau bên phải bị gãy.

Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo các biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 22-8-2023.

  1. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Các bị cáo Trương Văn T, Trần Văn C1, Trần Văn L (Đùn), Nguyễn Phước S (Sang C), Diệp Văn V, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Trương Văn T, Trần Văn C1, Trần Văn L (Đùn), Nguyễn Phước S (Sang C), Diệp Văn V được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng anh Nguyễn Phi B, chị Nguyễn Thị Thu C4, anh Lê Văn N vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT.TANDTC (Vụ 1);
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - Phòng KTNV-TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Tân Châu;
  • - VP.CQCSĐT CA huyện Tân Châu;
  • - Phòng PV06 CA tỉnh Tây Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Châu;
  • - Phòng lý lịch Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Tân Châu;
  • - Các bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ; Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Nguyễn Thị Kim Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2023/HS-ST ngày 28/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 97/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Văn T và đồng phạm về tội Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger