|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 97/2024/HNGĐ-ST
Ngày 28/6/2024
V/v Xin ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Mai Ka
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Kiệt
Bà Nguyễn Thị Út
Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hồng Cẩm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long: Ông Trần Long Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 111/2024/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2024 về việc “Xin ly hôn, nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 63/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 73/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 10 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Trúc L, sinh năm 1991 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
- Bị đơn: Anh Trương Thanh L1, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 07/3/2024 cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Đỗ Thị Trúc L trình bày:
Qua quen biết chị L và anh Trương Thanh L1 có tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo giấy Chứng nhận kết hôn số 11, ngày 01/02/2013 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.
Sau khi lấy nhau vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh L1 và chị L thường xuyên cãi vã, chị L là người chăm lo quán xuyến công việc trong gia đình nhưng anh L1 không chia sẻ với chị mà chỉ lo nhậu nhẹt, ăn chơi bên ngoài, chị L đã nhiều lần khuyên ngăn để xây dựng gia đình hạnh phúc nhưng anh L1 vẫn không sửa đổi. Chị L đã ly thân với anh L1 từ năm 2023 đến nay, từ lúc ly thân anh L1 và chị L vẫn không hàn gắn được với nhau.
Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trương Thanh L1.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Trương Gia N, sinh ngày 20/12/2013; cháu Trương Thanh S, sinh ngày 04/5/2018. Tại đơn khởi kiện ngày 07/3/2024 chị L yêu cầu được nuôi con, yêu cầu anh L1 phải cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Quá trình giải quyết vụ án chị L rút yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu cấp dưỡng này. Chị L đồng ý giao cháu N và cháu S cho anh L1 tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Trương Thanh L1 vắng mặt không rõ lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ.
Ngày 24/6/2024 chị Đỗ Thị Trúc L có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn anh Trương Thanh L1 vắng mặt tại phiên xét xử.
- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long:
Căn cứ Điều 147, 217, 218, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Đình chỉ đối với yêu cầu của nguyên đơn chị Đỗ Thị Trúc L đối với yêu cầu buộc anh Trương Thanh L1 cấp dưỡng nuôi cháu Trương Gia N, Trương Thanh S mỗi cháu 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi 02 cháu đủ 18 tuổi.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đỗ Thị Trúc L.
Về quan hệ hôn nhân: chị Đỗ Thị Trúc L được ly hôn với anh Trương Thanh L1.
Về con chung: giao cháu Trương Gia N, sinh ngày 20/12/2013, Trương Thanh S, sinh ngày 04/5/2018 cho anh Trương Thanh L1 chăm sóc, nuôi dưỡng chị Đỗ Thị Trúc L có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu N và cháu S mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng: Không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: buộc chị Đỗ Thị Trúc L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
2
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện, lời trình bày của đương sự. Kết luận, quan hệ tranh chấp về “Ly hôn, nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Chị Đỗ Thị Trúc L có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Trương Thanh L1 đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần hai mà vẫn vắng mặt không rõ lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
[3] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Đỗ Thị Trúc L và anh Trương Thanh Lâm c sống với nhau có đăng ký kết hôn theo giấy Chứng nhận kết hôn số 11, ngày 01/02/2013 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Long nên đây là hôn nhân hợp pháp, phù hợp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Xét yêu cầu ly hôn của chị L: Chị L trình bày trong thời gian chung sống chị và anh L1 xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, anh L1 không chăm lo cho cuộc sống gia đình mà chỉ lo nhậu nhẹt, không san sẻ công việc gia đình với chị L. Chị L đã nhiều lần khuyên ngăn nhưng anh L1 vẫn không thay đổi tính tình. Chị L và anh L1 đã ly thân từ năm 2023 đến nay, từ lúc ly thân cả hai vẫn không có biện pháp hàn gắn hôn nhân với nhau.
Xét thấy anh L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến Tòa án để tạo điều kiện cho hai bên hòa giải đoàn tụ nhưng anh vẫn vắng mặt và cũng không có mặt tại phiên xét xử. Quá trình xác minh tại địa phương về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng thì chính quyền địa phương không nắm rõ do chị L và anh L1 không có trình báo. Toà án đã triệu tập anh L1 nhiều lần nhưng anh L1 đều vắng mặt không lý do, điều này thể hiện anh L1 không còn tha thiết đến hạnh phúc gia đình, không có thiện chí hoà giải đoàn tụ. Chị L xác định không còn tình cảm với anh L1 và kiên quyết ly hôn, chị và anh L1 cũng không còn tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ vợ chồng nên việc chị L yêu cầu ly hôn với anh L1 là có cơ sở. Căn cứ Điều 19, Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận cho chị L được ly hôn với anh L1.
[4] Về con chung: Chị L và anh L1 có có 02 con chung là cháu Trương Gia N, sinh ngày 20/12/2013; cháu Trương Thanh S, sinh ngày 04/5/2018. Xét các cháu đã được anh L1 chăm sóc và nuôi dưỡng từ thời điểm anh chị ly thân đến nay. Anh L1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến giải quyết vụ án nhưng vắng mặt không lý do, cũng như không có ý kiến trình bày về yêu cầu nuôi con chung của anh gởi đến Toà án. Tại Biên bản làm việc ngày 20/5/2024 cháu N có nguyện vọng được sống chung với anh L1. Do đó để đảm bảo cuộc sống ổn định của cháu N và cháu S cũng như dựa trên nguyện vọng của các cháu, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu N và cháu S cho anh L1 tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tại Đơn khởi kiện ngày 07/3/2024 chị L có yêu cầu được nuôi con, yêu cầu anh L1 phải cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Quá trình giải quyết vụ án chị L rút lại yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy việc rút yêu cầu của chị L là hoàn toàn tự nguyện, không bị đe dọa, ép buộc và đúng quy định pháp luật. Căn cứ theo quy định tại Điều 217, 218 Bộ Luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu này của chị L. Chị L cũng không cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc chị Đỗ Thị Trúc L phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.
[7] Ý kiến của vị đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 217, Điều 218, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Đình chỉ đối với yêu cầu của nguyên đơn chị Đỗ Thị Trúc L đối với yêu cầu buộc anh Trương Thanh L1 cấp dưỡng nuôi cháu Trương Gia N, Trương Thanh S mỗi cháu 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi 02 cháu đủ 18 tuổi.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Trúc L.
Về hôn nhân: Chị Đỗ Thị Trúc L được ly hôn với anh Trương Thanh L1.
- Về con chung: Giao cháu Trương Gia N, sinh ngày 20/12/2013; cháu Trương Thanh S, sinh ngày 04/5/2018 cho anh Trương Thanh L1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét giải quyết.
- Chị Đỗ Thị Trúc L không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đỗ Thị Trúc L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Đỗ Thị Trúc L phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000845 ngày 07/03/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Chị L đã nộp xong.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Mai Kaf |
5
Bản án số 97/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG về xin ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 97/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Đỗ Thị Trúc L được ly hôn với anh Trương Thanh L1