Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÀU BÀNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG


Bản án số: 97/2024/HS-ST

Ngày: 27-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Duy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hòa;

Ông Nguyễn Long Giang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 86/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST–HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Phan Quang Đ, sinh năm 2002 tại Cao Bằng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp E, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: công nhân; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; giới tính: nam; tôn giáo: Không; con ông Phan Văn Đ1 và bà Lưu Thị B; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

Bị hại: Bà Nguyễn Thu T, sinh năm 1998; địa chỉ: ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương; có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trương Thị H, sinh năm 1978; địa chỉ: ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Quang Đ và bà Nguyễn Thu T không có giấy phép lái xe theo quy định pháp luật. Khoảng 07 giờ 10 phút ngày 22/7/2023, Phan Quang Đ điều khiển xe mô tô biển số 93M1-358.73 lưu thông trên đường N hướng từ đường D5 đến đường N khu công nghiệp B đến giao lộ ngã tư đường N giao nhau với đường D khu công nghiệp B thuộc ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 36B6-229.33 do bà Nguyễn Thu T trực tiếp đang lưu thông trên đường D hướng từ đường NC đến đường N (từ phải qua trái theo hướng xe mô tô biển số 93M1-358.73). Hậu quả: Bà Nguyễn Thu T bị thương tích nặng điều trị bệnh viện đa khoa tỉnh B. Ông Đ bị thương nhẹ, hư hỏng 02 mô tô.

Vật chứng tạm giữ gồm:

  • - 01 xe mô tô biển số 93M1-358.73;
  • - 01 xe mô tô biển số 36B6-229.33;

Qua công tác khám nghiệm thu thập dấu vết tại hiện trường xác định: Đoạn đường xảy ra tai nạn là giao lộ ngã tư đường N giao nhau với đường D6 mặt đường trải nhựa bằng phẳng. Đường N3 là đoạn đường hai chiều có chiều rộng 15m và không có vạch kẻ đường. Đường D6 là đoạn đường hai chiều được phân cách bởi vạch kẻ đơn đứt quãng màu trắng rộng 9m, mỗi chiều đường rộng 4,5m tầm nhìn lái xe không bị che khuất. Trên cả hai đoạn đường không có biển cấm và các loại biển báo hiệu về đường giao nhau. Quá trình khám nghiệm xác định mép đường bên phải đường N3 hướng phương tiện lưu thông từ đường D5 đến đường D làm chuẩn. Xác định trụ điện số 25 nằm trong lề đường mép đường chuẩn làm điểm mốc.

Vùng va chạm nằm trong giao lộ khoảng cách đo đến mép đường chuẩn và đến điểm đầu vết cày của xe mô tô biển số 36B6-229.33 lần lượt là 2,9m và 1,35m. Sau va chạm xe mô tô biển số 36B6-229.33 để lại vết cày dài 13,63m in trên mặt đường hướng của vết cày từ lề chuẩn xéo sang lề bên trái đường N3, điểm cuối vết cày trùng với gác chân bên phải xe mô tô biển số 36B6-229.33. Điểm đầu vết cày đo vào mép đường chuẩn và đo tiếp đến điểm đầu vết cày xe mô tô biển số 93M1-358.73 lần lượt là 3,78m và 1,9m.

Sau khi xảy ra tai nạn xe mô tô biển số 93M1-358.73 để lại vết cày dài 5,34m in trên mặt đường, chiều hướng vết cày chếch xéo từ đường N5 đến đường D vào lề trái đường N3 điểm cuối vết cày trùng với gác chân sau bên phải xe mô tô biển số 93M1-358.73 điểm đầu vết cày đo vào mép đường chuẩn là 5,15m. Sau tai nạn xe mô tô biển số 93M1-358.73 ngã nghiêng bên phải nằm trên mặt đường N3 đầu hướng về đường N đo từ trục trước vào mép đường chuẩn và đo đến trục trước của xe mô tô biển số 36B6-229.33 lần lượt là 7,65m và 6,82m. Đo đến trục sau vào mép đường chuẩn và đến trục sau xe mô tô biển số 36B6-229.33 lần lượt là 6,5m và 6,94m.

Sau tai nạn xe mô tô biển số 36B6-229.33 ngã nghiêng bên phải nằm trên mặt đường N3 đầu hướng về lề trái đường N3. Đo từ trục trước đến mép đường chuẩn là 13,43m đo từ trục sau đến mép đường chuẩn và đến chất lỏng màu đỏ lần lượt là 12,43m và 1,95m.

Chất lỏng màu đỏ (dài 0,6m rộng 0,2m) nằm trên mặt đường cách mép đường chuẩn là 12,86m. Trụ điện số 25 nằm trong lề đường bên phải khoảng cách đo đến mép đường chuẩn và đến điểm vết cày xe mô tô biển số 36B6-229.33 lần lượt là 4,94m và 14,0m.

Ngày 01/8/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ban hành Quyết định trưng cầu số 135 trưng cầu Phòng K công an tỉnh B giám định xác định điểm va chạm và cơ chế hình thành dấu vết và vị trí va chạm chiếu xuống mặt đường giữa hai phương tiện. Ngày 05/8/2023 Phòng K Công an tỉnh B đã ban hành kết luận số 333/KL-KTHS (CH):

  • - Dấu vết va chạm giữa hai phương tiện là: Dấu vết trượt xước cao su ở mặt cạnh lăn, cạnh phải lốp bánh trước có chiều lặn lăn vào vành, gãy rời hai phuộc trước xe mô tô biển số 93M1-358.73 có chiều từ trước về sau từ phải qua trái (ảnh 3,5,7) phù hợp với dấu vết trượt xước sơn màu đen, vỡ khuyết ốp nhựa bên trái bể để chân, bửng chắn gió bên trái xe mô tô biển số 36B6-229.33 chiều từ trái qua phải từ trước về sau (ảnh 4,3,8)
  • - Cơ chế hình thành dấu vết va chạm giữa hai phương tiện là: Phần bánh trước xe mô tô biển số 93M1-358.73 va chạm với phần bên trái thân xe mô tô biển số 36B6-229.33 tạo ra dấu vết trên hai phương tiện.
  • - Vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện chiếu xuống mặt đường là khu vực phía trước đầu vết cày số 02 trên sơ đồ hiện trường.

Ngày 10/11/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 170 trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh B giám định tỷ lệ thương tích đối với bị hại Nguyễn Thu T. Ngày 23/11/2023 Trung tâm pháp y tỉnh B đã ban hành kết luận giám định số 655/2023/KLGĐ – TTPY kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thu T là 93%.

Ngày 13/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ban hành yêu cầu định giá tài sản số 1006/YC – ĐTTH trưng cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B định giá đối với xe mô tô nhãn hiệu Suzuki loại Raider số khung: RSDLIIANMV160594 số máy CGAI560522 biển số 93M1-358.73 màu xanh đen cam đăng ký tháng 9/2022 sau tai nạn bị: Bung vỡ đồng hồ kilomet; Gãy rời đèn tín hiệu trước trái và phải; Bung vỡ toàn bộ hệ thống đèn trước; Bung vỡ nhựa ốp tay lái; Bung vỡ nhựa chắn bùn bánh trước; Gãy rời hai phuộc bánh trước; N, vênh niền bánh trước; G rời chản ba cửa xe mô tô. Ngày 03/7/2024 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B đã ban hành kết luận số 68/KL – HĐĐGTS kết luận giá trị sửa chữa đối với xe mô tô nhãn hiệu Suzuki biển số 93M1-358.73 là 8.543.000 đồng.

Ngày 13/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ban hành yêu cầu định giá tài sản số 1007/YC – ĐTTH trưng cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B định giá đối với nhãn hiệu Hoda Vision màu đỏ đen biển số 36B6-229.33 sau tai nạn là giá trị sửa chữa, thay thế phụ tùng hư hỏng bung trầy xước nắp tay lái; Mài mòn đèn chiếu sáng trước; B1 mặt nạ trước bung vỡ nhựa chắn gió trước bên trái và bên phải; G rời yên xe; Vỡ cản sau bên phải; Bung vỡ nhựa ốp sườn bên phải và bên trái; Vỡ bệ gác chân trước bên trái; Bung nhựa chắn bùn sau; G rời chản ba của xe mô tô nhãn hiệu Hoda Vision màu đỏ đen biển số 36B6-229.33 là 2.274.000 đồng. Ngày 03/7/2024 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B đã ban hành kết luận số 69/KL – HĐĐGTS kết luận giá trị sửa chữa đối với xe mô tô biển số 36B6-229.33 là 2.274.000 đồng.

Đối với xe mô tô biển số 93M1-358.73 là tài sản do ông Phan Quang Đ đứng tên là chủ sở hữu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành trao trả xe mô tô trên lại cho ông Đ. Ông Đ nhận lại tài sản và không có ý kiến gì khác.

Đối với xe mô tô biển số 36B6-229.33 là tài sản do ông Nguyễn Văn T1 đứng tên chủ sở hữu. Ông T1 là cha ruột của bà T, bà T lấy xe mô tô biển số 36B6-229.33 của ông T1 sử dụng ông T1 không biết nên Cơ Quan Cảnh sát điều tra không xử lý ông T1. Do ngày 07/3/2024, ông T1 chết nên ngày 10/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành trao trả lại xe mô tô trên cho bà Trương Thị H là vợ của ông T1. Bà H đã nhận lại tài sản trên và không có yêu cầu gì thêm.

Về phần dân sự: Quá trình điều tra bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 90.000.000 đồng tiền chi phí chữa bệnh và sửa chữa xe mô tô. Bà T đã nhận đủ số tiền và làm đơn giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Cáo trạng số 86/CT–VKSBB ngày 20/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phan Quang Đ về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phan Quang Đ 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường thêm cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận việc thỏa thuận này.

Về biện pháp tư pháp: Không đề nghị xem xét, giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng qua phần tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và nội dung luận tội.

Tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án thống nhất toàn bộ nội dung truy tố, luận tội và không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo rất ăn năn hối hận xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội chăm sóc gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng với quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, kết luận giám định pháp y cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 07 giờ 10 phút ngày 22/7/2023, bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 93M1-358.73 lưu thông đến giao lộ ngã tư đường N giao nhau với đường D thuộc ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương do không nhường đường tại nơi giao nhau cho xe đi từ bên phải nên xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 36B6-229.33 do bị hại điều khiển. Tai nạn đã gây thương tích cho bà T là 93%. Hư hỏng 02 xe mô tô. Bị cáo không có giấy phép lái xe theo quy định. Hành vi của bị cáo đã vi phạm vào khoản 1 Điều 24 và khoản 1 Điều 58 Luật giao thông đường bộ. Do đó, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho sức khỏe của người bị hại. Với tình hình tai nạn giao thông xảy ra như hiện nay là do ý thức không chấp hành luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông, mà phần lớn là lỗi của người điều khiển phương tiện vi phạm Luật giao thông đường bộ dẫn đến gây tai nạn cho người khác. Hậu quả của những hành vi này là gây thiệt hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng của nạn nhân. Do đó, đối với hành vi của bị cáo cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo là người dân tộc thiểu số nên khả năng nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

[6] Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý. Xét thấy không cần bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù bởi bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta. Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ phạm tội cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo và bị hại thống nhất thỏa thuận về việc bị cáo bồi thường thêm cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) chí phí điều trị nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[7] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Điểm a Khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017;
  • Điều 586, Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Điều 136, Điều 260, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
  • Nghị Quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo;
  • Nghị Quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị Quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo;

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phan Quang Đ phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Quang Đ 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Phan Quang Đ bồi thường cho bị hại Nguyễn Thu T số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000 đồng (một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Bàu Bàng;
  • - Công an huyện Bàu Bàng;
  • - Chi cục THADS huyện Bàu Bàng;
  • - UBND xã Tân Hưng, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án (nếu có);
  • - Lưu: HS, Tòa.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Duy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 97/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger