|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 97/2024/HSST Ngày: 28/6/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Lâm
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Công Hải và ông Nguyễn Thế Anh
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Hoàng Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu – tỉnh Nghệ An.
- - Đại diện VKS nhân dân huyện D tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị H – Kiểm sát viên .
Trong ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở UBND xã D huyện D tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử lưu động sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 93/2024/HSST ngày 04 tháng 6 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2024/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ tên: Vũ Văn D; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 14/8/2004 tại huyện D, tỉnh Nghệ An.; Nơi cư trú: Xóm Đ, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Vũ Văn C, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1972; Anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ, con: Chưa có;
Tiền sự:
- + Ngày 25/12/2020, Công an huyện D, tỉnh Nghệ An đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 706/QĐ-XPHC về hành vi “Trộm cắp tài sản”, phạt tiền 750.000 đồng (hiện chưa thi hành).
- + Ngày 24/01/2022, Công an huyện D, tỉnh Nghệ An đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 10/QĐ-XPHC về hành vi “Tàng trữ hàng cấm”, phạt tiền 3.750.000 đồng (hiện chưa thi hành).
Tiền án:
Ngày 20/12/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2023.
Nhân thân: Ngày 04/5/2020, Công an huyện D, tỉnh Nghệ An đã ra Quyếtxử phạt vi phạm hành chính số 489/QĐ-XPHC về hành vi “Trộm cắp tài sản”, hình thức: cảnh cáo. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay có mặt tại phiên Tòa.
2. Họ và tên: Vũ Văn H1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 11/3/2003, tại huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm Đ, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Vũ Văn C, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1972; Anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ, con: Chưa có;
Tiền sự:
- + Ngày 04/5/2020, Công an huyện D, tỉnh Nghệ An đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 488/QĐ-XPHC về hành vi “Trộm cắp tài sản”, phạt tiền 750.000 đồng (hiện chưa thi hành).
- + Ngày 25/12/2020, Công an huyện D, tỉnh Nghệ An đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 705/QĐ-XPHC về hành vi “Trộm cắp tài sản”, phạt tiền 750.000 đồng (hiện chưa thi hành).
Tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/02/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị B sinh năm 1958
Nơi cư trú: Xóm Đ, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 50 phút ngày 23/02/2024, Vũ Văn D đi chơi về thì thấy bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1958, trú tại xóm Đ, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An đang đóng cửa quán tạp hóa. Lúc này, D nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên đi về nhà và rủ anh trai là Vũ Văn H1 tham gia cùng thì H1 đồng ý rồi cả hai cùng đi đến nhà bà B. Khi cách quán khoảng 50 mét về phía Bắc, H1 đứng lại quan sát, canh người cho D đi vào quán trộm cắp tài sản. Vũ Văn D trèo lên mái nhà của nhà chị Nguyễn Thị N rồi đi qua mái nhà của nhà ông Trần N1 và mái nhà của nhà ông Phan Văn Q (là hàng xóm giáp nhà bà B). Sau khi trèo lên mặt phía Bắc của tầng 2 nhà bà B, D lấy 01 (Một) viên đá kích thước khoảng (10 x 7) cm trên mái nhà của nhà ông Q rồi đập vỡ tấm kính kích thước (1,1 x 0,32) m, dày 4 mm của ô cửa sổ cầu thang nhà bà B, leo vào nhà. Khi
vào được trong nhà, D theo cầu thang đi xuống tầng 1 rồi đi ra khu cửa hàng tạp hóa. D lấy trong thùng sơn cũ bằng nhựa, màu trắng đặt trên kệ gỗ một số tiền và thẻ cào điện thoại di động bỏ vào túi quần trước bên phải đang mặc rồi đi ra ngoài theo lối trước đó đã đột nhập. Sau đó, H1 và D cùng đi về nhà rồi đem số tài sản vừa lấy trộm được ra kiểm tra thì đếm được số tiền mặt là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) và 27 (Hai mươi bảy) chiếc thẻ cào điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL. D chia cho H1 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) cùng toàn bộ số thẻ cào, số tiền 9.500.000 đồng D giữ lại cho mình. Toàn bộ số tiền mặt và số thẻ cào điện thoại di động D và H1 đã tiêu xài cá nhân và nạp thẻ chơi game hết.
Ngày 25/02/2024, Vũ Văn H1 đã đến Công an xã D, huyện D để đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình và đồng phạm.
Tại Bản kết luận định giá tài sản ngày 01/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D kết luận: 27 (Hai mươi bảy) thẻ cào nạp tiền điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL, đã qua sử dụng có giá trị:
- + 01 (Một) thẻ có mệnh giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), có số seri là: 10010079506623; giá: 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- + 10 (Mười) thẻ có mệnh giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng); Trị giá 1.000.000đ (Một triệu đồng).
- + 14 (Mười bốn) thẻ có mệnh giá 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) trị giá: 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng).
- + 02 (Hai) Thẻ có mệnh giá 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng) trị giá: 40.000 đồng (Bốn mươi nghìn đồng).
Tổng: 1.940.000 đồng (Một triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng).
Tại Bản kết luận định giá tài sản ngày 15/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D đã kết luận: 01 (Một) tấm kính màu trắng xanh nhạt, loại kính mờ hoa văn, kích thước (1,1 x 0,32) m, dày 4 mm, tấm kính được lắp đặt vào năm 2016, hiện tại đã bị hư hỏng, không còn giá trị sử dụng, giá 48.000 đồng (Bốn mươi tám nghìn đồng).
* Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Vũ Văn H1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, Vũ Văn D phạm tội thuộc trường hợp tái phạm.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội Vũ Văn H1 đã ra đầu thú, bị can phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho người bị hại, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
* Vật chứng vụ án:
- - 27 (Hai mươi bảy) thẻ cào nạp tiền điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL, đã qua sử dụng, gồm: 01 (Một) thẻ có mệnh giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), có số seri là 10010079506623; 10 (Mười) thẻ có mệnh giá 100.000 đồng (Một trăm
nghìn đồng), có số seri lần lượt là 10010075900707, 10010555835505, 10010555835510, 10010538739587, 10010555835504, 10010555835509, 10010075900703, 10010075900708, 10010075900713, 10010075900718; 14 (Mười bốn) thẻ có mệnh giá 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng), có số seri lần lượt là 10010295108518, 10010295108512, 10010295108497, 10010295108491, 10010295108496, 10010295108487, 10010295108492, 10010295108483, 10010295108488, 10010295108493, 10010493529314, 10010493529315, 10010493529319, 10010493529320 và 02 (Hai) thẻ có mệnh giá 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng), có số seri lần lượt là 10010349221589, 10010349221584.
- - 01 (Một) chiếc quần bò lửng, màu đen, size 28, loại quần bò mài, trên quần có dòng chữ “JEANS DENIM”, quần đã qua sử dụng, thu giữ của Vũ Văn H1.
- - 01 (Một) chiếc áo phao dài tay, màu đen, size 170, có khóa kéo, có mũ trùm màu đỏ, áo đã qua sử dụng, thu giữ của Vũ Văn D.
Hiện các vật chứng trên đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi Cục thi hành án huyện D theo quy định.
* Trách nhiệm dân sự:
Bà Nguyễn Thị B đã được các bị can và gia đình đền bù thiệt hại, khắc phục hậu quả với tổng số tiền là 12.140.000 đồng (Mười hai triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng). Do vậy, bà B không yêu cầu, đề nghị về dân sự.
Tại bản cáo trạng số 111/CT-VKSDC ngày 29/5/2024 đã truy tố bị cáo Vũ Văn D và Vũ Văn H1 về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX:
- Căn cứ khoản 1, Điều 173, điểm b, s, khoản 1 Điều 51, điểm h, khoản 1 Điều 52 BLHS xử phạt bị cáo Vũ Văn D mức án từ 18 tháng đến 21 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Căn cứ khoản 1, Điều 173, điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, BLHS xử phạt bị cáo Vũ Văn H1 mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị B đã được bồi thường thiệt hại về tài sản và không yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
- - Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
Đối với 27 (Hai mươi bảy) thẻ cào nạp tiền điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL, đã qua sử dụng, gồm: 01 (Một) thẻ có mệnh giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), có số seri là 10010079506623; 10 (Mười) thẻ có mệnh giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), có số seri lần lượt là 10010075900707, 10010555835505, 10010555835510, 10010538739587, 10010555835504, 10010555835509, 10010075900703, 10010075900708, 10010075900713, 10010075900718; 14 (Mười bốn) thẻ có mệnh giá 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng), có số seri lần lượt là
10010295108518, 10010295108512, 10010295108497, 10010295108491, 10010295108496, 10010295108487, 10010295108492, 10010295108483, 10010295108488, 10010295108493, 10010493529314, 10010493529315, 10010493529319, 10010493529320 và 02 (Hai) thẻ có mệnh giá 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng), có số seri lần lượt là 10010349221589, 10010349221584. Không có giá trị sử dụng. Cần tịch thu tiêu hủy.
Trả lại cho Vũ Văn D 01 (Một) chiếc áo phao dài tay, màu đen, size 170, có khóa kéo, có mũ trùm màu đỏ, áo đã qua sử dụng.
Trả lại cho Vũ Văn H1 01 (Một) chiếc quần bò lửng, màu đen, size 28, loại quần bò mài, trên quần có dòng chữ “JEANS DENIM”, quần đã qua sử dụng.
Hiện các vật chứng trên đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi Cục Thi hành án huyện D theo biên bản giao nhận vật chứng và phiếu nhập kho số 24NK 106 ngày 10/6/2024 giữa cơ quan Công an huyện D và Chi Cục Thi hành án huyện Diễn Châu.
Các bị cáo không có tranh luận gì. Các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đó được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên toà hôm nay bị cáo Vũ Văn D và Vũ Văn H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ, phù hợp với lời khai của bị hại, như vậy đã đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 17 giờ ngày 23/02/2024, tại nhà bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1958, trú tại xóm Đ, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Vũ Văn D và Vũ Văn H1 đã có hành vi lén lút, chiếm đoạt của bà B số tiền 10.000.000 đồng và 27 chiếc thẻ cào nạp tiền điện thoại di động có giá trị 1.940.000 đồng, tổng giá trị tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt là 11.940.000 đồng. Hành vi của các bị cáo Vũ Văn D và Vũ Văn H1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản. Tội phạm và khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố các bị cáo về tội danh và khung hình phạt như cáo trạng là có căn cứ pháp luật.
[3]. Hành vi của bị cáo Vũ Văn D và Vũ Văn H1 có tính chất ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo Vũ Văn D và Vũ Đức H2 là người có đầy đủ năng lực hành vi hình sự, phạm tội với lỗi cố ý nên phải chịu trách nhiệm hình sự.
Bị cáo D có 01 tiền án: Ngày 20/12/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/4/2023.
Ngoài ra bị cáo còn 02 tiền sự:
- + Ngày 25/12/2020, Công an huyện D, tỉnh Nghệ An đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 706/QĐ-XPHC về hành vi “Trộm cắp tài sản”, phạt tiền 750.000 đồng (hiện chưa thi hành).
- + Ngày 24/01/2022, Công an huyện D, tỉnh Nghệ An đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 10/QĐ-XPHC về hành vi “Tàng trữ hàng cấm”, phạt tiền 3.750.000 đồng (hiện chưa thi hành).
Nhân thân: Ngày 04/5/2020, Công an huyện D, tỉnh Nghệ An đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 489/QĐ-XPHC về hành vi “Trộm cắp tài sản”, hình thức: cảnh cáo.
Chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật. Vì vậy cần phải lên một mức án nghiêm, tương xứng hành vi phạm tội của bị cáo.
Đối với bị cáo Vũ Văn H1 đã có 02 tiền sử:
- + Ngày 04/5/2020, Công an huyện D, tỉnh Nghệ An đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 488/QĐ-XPHC về hành vi “Trộm cắp tài sản”, phạt tiền 750.000 đồng (hiện chưa thi hành).
- + Ngày 25/12/2020, Công an huyện D, tỉnh Nghệ An đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 705/QĐ-XPHC về hành vi “Trộm cắp tài sản”, phạt tiền 750.000 đồng (hiện chưa thi hành) nay lại tiếp tục phạm tội, do vậy cũng cần lên một mức án nghiêm tương xứng hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện và nhất thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và răn đe phòng ngừa chung tội phạm.
[4]. Về các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cña bị cáo: Bị cáo Vũ Văn D phạm tội khi chưa được xóa án tích, phạm tội lần này là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1, Điều 52 BLHS.
Bị cáo Vũ Văn D có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, và đã tự nguyện khắc phục hậu quả. Do đó cần áp dụng tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, s khoản 1, Điều 51 BLHS 2015 để xem xét giảm nhẹ đối với bị cáo Vũ Văn D.
Bị cáo Vũ Văn H1 phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo H1 sau khi phạm tội đã đến cơ quan Công an đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khắc phục hậu quả, phạm tội thuộc trường hợp lần đầy ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó Hội đồng xét xử cũng cân nhắc xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ và lời khai tại phiên tòa, xét thấy bị cáo Vũ Văn D và Vũ Văn H1 không có việc làm ổn định, không có tài sản gì, nên xét miễn hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị B đã được bồi thường đầy đủ về thiệt hại và không yêu cầu gì thêm, nên miễn xét.
[7] Đối với hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của Vũ Văn D, do giá trị tài sản chưa đến mức xử lý hình sự nên Công an huyện D đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Vũ Văn D là đúng quy định pháp luật.
[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
- - 01 (Một) chiếc quần bò lửng, màu đen, size 28, loại quần bò mài, trên quần có dòng chữ “JEANS DENIM”, quần đã qua sử dụng, thu giữ của Vũ Văn H1.
- - 01 (Một) chiếc áo phao dài tay, màu đen, size 170, có khóa kéo, có mũ trùm màu đỏ, áo đã qua sử dụng, thu giữ của Vũ Văn D.
Đối với vật chứng trên không phải là công cụ phạm tội nên cần được trả lại cho các bị cáo.
Các vật chứng:
- 27 (Hai mươi bảy) thẻ cào nạp tiền điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL, đã qua sử dụng, gồm: 01 (Một) thẻ có mệnh giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), có số seri là 10010079506623; 10 (Mười) thẻ có mệnh giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), có số seri lần lượt là 10010075900707, 10010555835505, 10010555835510, 10010538739587, 10010555835504, 10010555835509, 10010075900703, 10010075900708, 10010075900713, 10010075900718; 14 (Mười bốn) thẻ có mệnh giá 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng), có số seri lần lượt là 10010295108518, 10010295108512, 10010295108497, 10010295108491, 10010295108496, 10010295108487, 10010295108492, 10010295108483, 10010295108488, 10010295108493, 10010493529314, 10010493529315, 10010493529319, 10010493529320 và 02 (Hai) thẻ có mệnh giá 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng), có số seri lần lượt là 10010349221589, 10010349221584. Không có giá trị sử dụng. Cần tịch thu tiêu hủy.
Hiện các vật chứng trên đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi Cục Thi hành án huyện D theo biên bản giao nhận vật chứng và phiếu nhập kho số 24NK 106
ngày 10/6/2024 giữa cơ quan Công an huyện D và Chi Cục Thi hành án huyện Diễn Châu.
- Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị B đã được các bị can và gia đình đền bù thiệt hại, khắc phục hậu quả với tổng số tiền là 12.140.000 đồng (Mười hai triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng). Bà B không yêu cầu, đề nghị về dân sự, nên miễn xét.
[9]. Về án phí: Buộc bị cáo Vũ Văn D và Vũ Văn H1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[10]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại trong vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời gian quy định của pháp luật.
[11] Vụ án được đưa ra xét xử lưu động công khai tại địa phương hôm nay là nhằm tuyên truyền phổ biến pháp luật đến với tất cả quần chúng nhân dân, nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm thượng tôn pháp luật, mặt khác cũng là bài học cảnh giác về quản lý tài sản thuộc sở hữu của bản thân, bài học nghiêm khắc đối với các bị cáo, là tiếng chuông cảnh tỉnh cho những ai đang manh nha thực hiện tội phạm thì phải từ bỏ ngay ý định phạm tội. Việc xét xử lưu động cũng góp một phần đẩy lùi tội phạm, giành lại địa bàn trong sạch không tội phạm trên toàn tỉnh Nghệ An nói chung và trên địa bàn huyện D nói riêng. Phục vụ nhiệm chính trị chung trong toàn xã hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, Điều 173, điểm b, s khoản Điều 51, điểm h, khoản 1 Điều 52 BLHS. Xử phạt:
- Bị cáo Vũ Văn D 21 (Hai mươi mốt) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 26/4/2024.
Căn cứ vào khoản 1, Điều 173, điểm b,i, s khoản1, khoản 2 Điều 51, BLHS. Xử phạt:
- Bị cáo Vũ Văn H1 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 25/02/2024.
- Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy: 27 (Hai mươi bảy) thẻ cào nạp tiền điện thoại di động nhãn hiệu VIETTEL, đã qua sử dụng, gồm: 01 (Một) thẻ có mệnh giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), có số seri là 10010079506623; 10 (Mười) thẻ có mệnh giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), có số seri lần lượt là 10010075900707, 10010555835505, 10010555835510, 10010538739587, 10010555835504, 10010555835509, 10010075900703, 10010075900708, 10010075900713, 10010075900718; 14 (Mười bốn) thẻ có mệnh giá 50.000 đồng (Năm mươi nghìn
đồng), có số seri lần lượt là 10010295108518, 10010295108512, 10010295108497, 10010295108491, 10010295108496, 10010295108487, 10010295108492, 10010295108483, 10010295108488, 10010295108493, 10010493529314, 10010493529315, 10010493529319, 10010493529320 và 02 (Hai) thẻ có mệnh giá 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng), có số seri lần lượt là 10010349221589, 10010349221584. Không có giá trị sử dụng. Cần tịch thu tiêu hủy.
Trả lại cho Vũ Văn D 01 (Một) chiếc áo phao dài tay, màu đen, size 170, có khóa kéo, có mũ trùm màu đỏ, áo đã qua sử dụng.
Trả lại cho Vũ Văn H1 01 (Một) chiếc quần bò lửng, màu đen, size 28, loại quần bò mài, trên quần có dòng chữ “JEANS DENIM”, quần đã qua sử dụng.
Hiện các vật chứng trên đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi Cục Thi hành án huyện D theo biên bản giao nhận vật chứng và phiếu nhập kho số 24NK 106 ngày 10/6/2024 giữa cơ quan Công an huyện D và Chi Cục Thi hành án huyện Diễn Châu.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Vũ Văn D và Vũ Văn H1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án niêm yết hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Lâm |
Bản án số 97/2024/HSST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 97/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: phạm tội
