Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2024/HNGĐ-ST

Ngày 26/7/2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Nhường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vương Tiến Chuẩn

Bà Phạm Thị Đoàn

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Nam - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 260/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2024/QĐXX-ST ngày 10 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Tô Thị H, sinh năm 1983. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Dương Văn D, sinh năm 1976. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố N, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/6/2024 và những lời khai tiếp theo của nguyên đơn chị Tô Thị H, bản tự khai của bị đơn anh Dương Văn D thì nội dung vụ án như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Tô Thị H và anh Dương Văn D kết hôn với nhau vào năm 2002, trước khi kết hôn chị H và anh D có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, chị H và anh D có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Chị H và anh D sống chung ban đầu hòa thuận hạnh phúc. Về mâu thuẫn vợ chồng chị H cho rằng đến năm 2022 thì chị H và anh D phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị H và anh D không hợp nhau vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống vợ chồng không thể duy trì, có chung sống cũng chỉ làm khổ cho nhau nên chị Tô Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Dương Văn D. Anh Dương Văn D xác nhận hai vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Nay chị Tô Thị H làm đơn đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với anh thì anh đồng ý.

- Về con chung: Chị H và anh D có 02 con chung là Dương Thị N, sinh năm 2002, Dương Văn C, sinh năm 2005. Hiện nay cả 02 cháu đều đã trưởng thành trên 18 tuổi nên anh D, chị H đều không đề nghị Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Tô Thị H và anh Dương Văn D tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay, chị Tô Thị H và anh Dương Văn D đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51; Điều 53; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tô Thị H, cho chị Tô Thị H được ly hôn anh Dương Văn D.

- Về con chung: Do các con chung đều đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung và công nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chị Tô Thị H là nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Tô Thị H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang giải quyết cho chị và anh Dương Văn D được ly hôn. Bị đơn anh Dương Văn D hiện đang sinh sống và thường trú tại: Tổ dân phố N, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Hội đồng xét xử xác định: Về quan hệ pháp luật đây là vụ án “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên toà, nguyên đơn chị Tô Thị H và anh Dương Văn D đều vắng mặt và có đơn xin vắng mặt. Căn cứ theo quy định tại Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt chị Tô Thị H và anh Dương Văn D.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Chị Tô Thị H và anh Dương Văn D kết hôn với nhau vào ngày 02 tháng 01 năm 2002, trước khi kết hôn có được tự do tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Như vậy xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

[4] Trong quá trình chung sống được một thời gian thì hai bên đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi nhau, xích mích. Chị H và anh D đã sống ly thân được một thời gian gian dài. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh D là có thật. Sau khi thụ lý vụ án chị H cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Quá trình giải quyết vụ án, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh D. Bị đơn anh Dương Văn D cũng xác nhận hai vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Nay chị Tô Thị H làm đơn đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với anh thì anh đồng ý.

[5] Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng cả chị Tô Thị H và anh Dương Văn D đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo như các quy định đã nêu ở trên. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Tô Thị H, cho chị Tô Thị H được ly hôn với anh Dương Văn D.

[6] Về con chung: Do các con chung đều đã trưởng thành trên 18 tuổi, phát triển ổn định các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Về tài sản chung, công nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[8] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội chị Tô Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

[9] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc giải quyết ly hôn, con chung giữa chị Tô Thị H và anh Dương Văn D phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

[10] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Tô Thị H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Tô Thị H được ly hôn với anh Dương Văn D.
  2. Về án phí: Chị Tô Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006235 ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Tô Thị H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - UBND xã Nam Dương, huyện Lục Ngạn,
  • tỉnh Bắc Giang;
  • - Các đương sự,
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Đức Nhường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2024/HNGĐ-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 97/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cdS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger