TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN Bản án số: 97/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26/4/2024 V/v tranh chấp ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA - TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Chí Lin
- Bà Trần Thị Đổi
- Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Tùng Khương
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1367/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2023 về việc tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Tổ G ấp N, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
Bị đơn: Ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1987.
Địa chỉ: ấp S, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An.
(Bà T có Đơn xin xét xử vắng mặt; ông Đ vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Do quen biết và được gia đình hai bên đồng ý, nên bà và ông Đ đã xác lập quan hệ vợ chồng, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Đ, tỉnh Long An.
Sau khi cưới vợ chồng sống tại xã A, huyện Đ, tỉnh Long An. Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc, nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do ông Đ không lo làm ăn, không chăm sóc cuộc sống gia đình, bà đã khuyên nhũ rất nhiều lần, nhưng ông Đ vẫn không sửa đổi, nên vợ chồng đã không còn sống chung với nhau hơn 01 năm nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể tiếp tục, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Đ.
Về con chung: có 02 con chung tên Phạm Hà M, sinh ngày 16/6/2017 và Phạm Hải Đ1, sinh ngày 28/02/2019. Con đang sống với ông Đ, được chăm sóc tốt cả về thể chất và tinh thần, để tránh ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của các con, nên khi ly hôn bà đồng ý để ông Đ được tiếp tục nuôi dưỡng cháu M và cháu Đ1, bà không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tổ chức hòa giải, để các bên hàn gắn tình cảm. Tuy nhiên, ông Đ không đến mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Do đó, Tòa án không tiến hành hòa giải được, nên đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa, bà T vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Đ vắng mặt không lý do, mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cùng giấy báo phiên toà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, qua thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bà Nguyễn Ngọc T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Phạm Văn Đ căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp ly hôn”, thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
[2]. Về việc tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án: Bà Nguyễn Ngọc T có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Phạm Văn Đ, xác định bà T là nguyên đơn, ông Đ là bị đơn.
[3]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Phạm Văn Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy báo phiên tòa và Quyết định hoãn phiên tòa, tuy nhiên ông Đ không đến tham gia phiên tòa. Bà Nguyễn Ngọc T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào lời trình bày cũng như chứng cứ mà bà T cung cấp để giải quyết vụ án.
[4]. Xét yêu cầu ly hôn của bà T:
Bà T ông Đ xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Đ, tỉnh Long An nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp.
Về nguyên nhân mâu thuẫn:
Bà T trình bày về nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Đ không lo làm ăn, không chăm sóc vợ con, sống thiếu trách nhiệm với gia đình, bà đã cho ông Đ nhiều cơ hội để sửa đổi bản thân cũng như hàn gắn lại tình cảm vợ chồng, nhưng ông Đ vẫn không thay đổi, nên vợ chồng đã không còn sống chung từ tháng 02/2023 cho đến nay. Mặt khác, từ khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, ông Đ đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, biết việc bà T nộp đơn xin ly hôn, nhưng ông không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình, điều đó thể hiện ông Đ không quan tâm chăm sóc vợ con, không có trách nhiệm với gia đình và trong quá trình giải quyết vụ án bà T trình bày là không còn tình cảm với chồng, cuộc sống vợ chồng đã không còn hạnh phúc và mong Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đ. Điều đó chứng tỏ, tình trạng hôn nhân giữa ông Đ bà T đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.
Về nuôi con chung: có 02 con chung tên Phạm Hà M, sinh ngày 16/6/2017 và Phạm Hải Đ1, sinh ngày 28/02/2019. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án bà T thừa nhận hai con đang sống với ông Đ, được ông chăm sóc, giáo dục tốt, các cháu phát triển bình thường về mặt thể chất, tinh thần, nên Hội đồng xét xử thấy rằng để các cháu có cuộc sống ổn định, tránh sự xáo trộn trong sinh hoạt, ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý cần giao các cháu cho ông Đ tiếp tục nuôi dưỡng. Bà T không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi, nếu sau này ông Đ có tranh chấp về phần cấp dưỡng ông có thể khởi kiện thành vụ kiện khác.
Về tài sản chung: Bà T xác định về tài sản chung không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà T xác định nợ chung không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét về nợ chung và tài sản chung. Nếu sau này, các đương sự có tranh chấp về tài sản, nợ chung có thể khởi kiện thành vụ án khác.
[4] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tóa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Ngọc T đối với ông Phạm Văn Đ.
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Ngọc T được ly hôn với ông Phạm Văn Đ.
[2]. Về con chung: Giao hai con chung tên Phạm Hà M, sinh ngày 16/6/2017 và Phạm Hải Đ1, sinh ngày 28/02/2019 cho ông Phạm Văn Đ tiếp tục nuôi dưỡng, bà Nguyễn Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích con chung, Tòa án có thể ra quyết định thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng khi có yêu cầu của một hoặc hai bên.
Trường hợp, bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
[3]. Về tài chung, nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
[4]. Về án phí: Bà Nguyễn Ngọc T phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005511 ngày 04/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Bà Nguyễn Ngọc T đã nộp xong án phí.
[5]. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự không có mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
[6]. Về việc thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Hiền |
Bản án số 97/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA - TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 97/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA - TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc T ly hôn Phạm Văn Đ
