Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số 97/2023/HS-ST

Ngày: 25/8/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Huyền
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Sinh
Bà Đàm Thị Thanh Thủy

Thư ký phiên toà: Bà Hồ Thị Minh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thế Nghị - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 76/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2023/QĐXXST-HS ngày 28/7/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đào Văn T, tên gọi khác: không; sinh ngày 26/6/1986 tại tỉnh Hải Dương; nơi ĐKNKTT: thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương; nơi tạm trú và chỗ ở: khu E, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Thanh S và bà Nguyễn Thị N; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” từ ngày 25/7/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm (25/8/2023); hiện đang tại ngoại tại địa phương, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Công ty cổ phần E

Địa chỉ: Khu công nghiệp C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Thế Q – sinh năm 1970

Chức vụ: Giám đốc

Nơi cư trú: Tổ D, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Nguyễn Hồng Q1 – sinh năm 1988
  • Nơi cư trú: số F, đường N, phường Q, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • + Phạm Anh T1 – sinh năm 1986
  • Nơi cư trú: Số I V, tổ A, khu B, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người làm chứng:

  • + Định Bảo A – sinh năm 2004
  • Nơi cư trú: Tổ C, khu L, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • + Cao Ngọc L – sinh năm 1994
  • Địa chỉ: tổ B, khu N, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • + Lục Văn L1 – sinh năm 1986
  • Nơi cư trú: Tổ E,khu B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • + Trần Trung H – sinh năm 1989
  • Nơi cư trú: Tổ B, khu T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty cổ phần E1 -TT365, do anh Bùi Thế Q làm giám đốc, địa chỉ công ty tại cụm C, phường C, thành phố C, được thành lập từ ngày 20/10/2022, ngành nghề kinh doanh sản xuất xốp nhựa. Đến tháng 12/2022, Công ty X nhà xưởng và lắp đặt máy móc, thiết bị.

Ngày 13/12/2022, Công ty cổ phần E, ký hợp đồng, thuê Công ty cổ phần P, do anh Nguyễn Hồng Q1 làm giám đốc (địa chỉ công ty tại số F, Nguyễn Đức C, Q, thành phố C), thi công lắp đặt hệ thống phòng cháy, chữa cháy công trình Nhà xưởng của Công ty tại cụm C, thành phố C, gồm các hạng mục: nhà bơm nước, hệ thống báo cháy, chữa cháy tự động, hệ thống chống sét.... Theo quy định trong hợp đồng, thì Công ty cổ phần P tự chịu trách nhiệm việc tuyển công nhân, tự lo trang bị bảo hộ lao động, phương tiện máy móc, thiết bị và đảm bảo an toàn lao động, tuân thủ quy trình, quy định về phòng cháy chữa cháy. Sau đó, anh Nguyễn Hồng Q1 thuê anh Phạm Anh T1, sinh năm 1986, trú tại thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng, thi công lắp đặt hệ thống phòng cháy chữa cháy, trong đó: anh Phạm Anh T1 chịu trách nhiệm toàn bộ về phương án, biện pháp thi công, biện pháp đảm bảo an toàn, phòng chống cháy nổ. Do các hạng mục công trình thi công trong thời gian ngắn, nên anh Phạm Anh T1 thuê các nhân công khác ngoài công ty để thi công, trả công theo khối lượng công việc. Việc thi công được tiến hành từ ngày 17/12/2022, đến ngày 01/01/2023 thì cơ bản đã thực hiện xong các hạng mục, còn hệ thống chống sét chưa được thi công.

Do quen biết từ trước và biết Đào Văn T là người có bằng cấp, kinh nghiệm về hàn xì, nên ngày 26/12/2022, anh Phạm Anh T1 hợp đồng miệng, thuê Đào Văn T để thi công hạng mục hệ thống chống sét của nhà xưởng trên. Hai bên thỏa thuận: Đào Văn T chịu trách nhiệm toàn bộ về phương án, biện pháp thi công, biện pháp đảm bảo an toàn, phòng chống cháy nổ trong thi công.

Ngày 28/12/2022, Đào Văn T thi công, dựng xong các trụ tiếp điện. Đến khoảng 11 giờ ngày 01/01/2023, T đến nhà xưởng Công ty cổ phần E, tiếp tục thi công lắp đặt hệ thống cột thu lôi trên mái nhà xưởng. Khi đến, T không thấy ai và cũng không thông báo cho ai biết, một mình lấy vật liệu, máy hàn, trèo lên mái nhà xưởng, hàn đế cột thu lôi vào thanh kim loại trên nóc mái. Do không chú ý, không thực hiện biện pháp phòng chữa cháy, đã làm xỉ hàn có nhiệt độ cao rơi xuống dưới, gây cháy vật liệu, nhà xưởng, gây thiệt hại về tài sản của Công ty Cổ phần E1- TT365.

Biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q lập ngày 02/01/2023, xác định: trên mái xưởng tôn nhà xưởng sản xuất xốp nhựa Công ty Cổ phần E1- TT365, có 01 máy hàn, mỏ hàn, các miếng tôn tại khu vực này bị nóng chảy, thủng, rạn do việc hàn cắt. Cũng tại khu vực này các khung kim loại, thanh xà và phần mái tôn bị nhiệt tác động mạnh nhất làm gãy gấp khúc. Khung kim loại phía trên mái có 01 thanh kim loại được hàn với khung kim loại của mái và có 01 thanh kim loại tiếp mát của máy hàn được hàn với khung kim loại của mái, dấu vết hàn vẫn còn mới; cũng tại khu vực này có hệ thống máy cắt, các que hàn. Phần mái tôn, tường phía Tây + Bắc + Đông nhà xưởng có phần ốp tôn, cửa cuốn bị nhiệt tác động từ giữa giảm dần ra xung quanh, theo hướng từ trong ra ngoài.

Tại Bản kết luận giám định số 174/KL-KTHS ngày 16/01/2023 của V Bộ C1 kết luận: điểm xuất phát cháy nằm ở khu vực cách tường phía Tây khoảng 14,5m, cách tường phía Bắc khoảng 29,5m bên trong công ty cổ phần E thuộc cụm C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Nguyên nhân cháy:Trong quá trình hàn cắt kim loại bằng hồ quang điện làm bắn các vảy hàn có nhiệt độ cao vào các vật liệu dễ cháy ở dưới nền gây cháy, sau đó cháy lan ra xung quanh dẫn đến vụ cháy nói trên.

Bản kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐGTX ngày 23/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận: giá trị tài sản của Công ty Cổ phần E1- TT365 bị thiệt hại do vụ cháy gây ra tại thời điểm bị xâm phạm là 447.536.000 đồng (Bốn trăm bốn mươi bẩy triệu năm trăm ba mươi sáu nghìn đồng).

Quá trình điều tra, Đào Văn T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, T khai làm thợ hàn cơ khí tự do, có bằng nghề trung cấp hàn bậc 3/7. Anh Phạm Anh T1 là người thuê, để T thi công hạng mục hệ thống chống sét của nhà xưởng Công ty Cổ phần E1- TT365T là người chịu trách nhiệm toàn bộ về phương án, biện pháp thi công, biện pháp đảm bảo an toàn, phòng chống cháy nổ trong quá trình thi công. Ngày 01/01/2023, T thực hiện công việc 1 mình, không làm phương án thi công, không thực hiện biện pháp đảm bảo an toàn phòng cháy, chữa cháy, quá trình hàn thanh sắt trên mái tôn nhà xưởng, đã để vẩy hàn rơi xuống gây cháy vật liệu, nhà xưởng.

Bản cáo trạng số: 85/CT-VKSQN-P2 ngày 19/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Đào Văn T về tội “vi pham quy định về phòng cháy, chữa cháy” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 313 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo có lời khai tương tự quá trình điều tra, thừa nhận hành vi phạm tội như quy kết của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Công ty Cổ phần E ông Bùi Thế Q vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt và xin cho bị cáo được hưởng án treo vì đã bồi thường dân sự xong, vụ hỏa hoạn có gây thiệt hại cho công ty nhưng là sự việc ngoài ý muốn, không may xảy ra, bị cáo là người lao động rất đáng thương và để bị cáo có cơ hội tự cải tạo, trở thành người có ích cho xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, viện dẫn các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội, phân tích tính chất, mức độ hành vi, đánh giá nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 1 Điều 313; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bị cáo Đào Văn T từ 30 đến 36 tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 05 năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đồng thời, đề nghị buộc bị cáo có nghĩa vụ chịu án phí theo qui định.

Bị cáo Đào Văn T không tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo Đào Văn T trình bày xin được hưởng án treo để có cơ hội tự cải tạo thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai báo của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, các nhân chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định về nguyên nhân cháy, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo với tội danh và điều luật như thể hiện tại bản cáo trạng số: 85/CT-VKSQN –P2 ngày 19/7/2023 là có căn cứ.

Do đó, đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 01/01/2023, trong quá trình thi công lắp đặt hệ thống chống sét nhà xưởng Công ty cổ phẩn EPS-TT365, tại cụm C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh. Đào Văn T đã không làm phương án thi công, không thực hiện biện pháp phòng cháy, chữa cháy, trực tiếp hàn thanh kim loại trên mái tôn nhà xưởng, làm bắn các vảy hàn có nhiệt độ cao xuống dưới, gây cháy vật liệu, nhà xưởng, gây thiệt hại về tài sản có tổng giá trị là 447.536.000đồng (Bốn trăm bốn bảy triệu năm trăm ba mươi sáu nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo Đào Văn T đã vi phạm quy định tại Điều 9.1.10 TCVN 5308:1991 tiêu chuẩn Việt Nam về quy phạm kỹ thuật an toàn xây dựng và Điều 2.2.12 TCVN3:2011/BLĐTBXH quy chuẩn kỹ thuật Quốc Gia về an toàn lao động đối với máy hàn điện và công việc hàn điện, do Bộ L2 ban hành ngày 29/7/2011 và vi phạm quy định tại điểm c, khoản 3b, Điều 5 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng cháy, chữa cháy (số 40 ngày 22/11/2013).

Điều 9.1.10 TCVN 5308:1991 tiêu chuẩn Việt Nam về quy phạm kỹ thuật an toàn xây dựng, quy định: “Chỉ được hàn trên cao sau khi đã có biện pháp chống cháy và biện pháp bảo đảm an toàn cho người làm việc, đi lại phía dưới”.

Điều 2.2.12 TCVN3:2011/BLĐTBXH quy chuẩn kỹ thuật Quốc Gia về an toàn lao động đối với máy hành điện và công việc hàn điện, quy định: “Các máy hàn nối tiếp xúc có quá trình làm chảy kim loại, phải trang bị tấm chắn tia kim loại nóng chảy bắn ra, đồng thời bảo đảm cho phép theo dõi quá trình hàn một cách an toàn".

Điều 5 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật phòng cháy, chữa cháy, quy định:

“3b. Cá nhân có trách nhiệm:

c. Bảo đảm an toàn về phòng cháy và chữa cháy trong quá trình sử dụng nguồn lửa, nguồn nhiệt, thiết bị, dụng cụ sinh lửa, sinh nhiệt và trong bảo quản, sử dụng chất cháy;”

Hành vi vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy nêu trên của Đào Văn T, gây thiệt hại về tài sản của Công ty E1- TT365 trị giá 447.536.000 đồng nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 313 Bộ luật Hình sự có mức hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

[3] Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bản thân bị cáo chưa thực hiện đúng và đầy đủ các điều kiện, yêu cầu để bảo đảm phòng cháy theo quy định của Luật phòng cháy, chữa cháy và các văn bản hướng dẫn thi hành nên đã gây ra hậu quả đã xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn cháy nổ, xâm phạm đến tài sản của bị hại. Do đó, cần phải xét xử nghiêm với mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • + Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Đào Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • + Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã thực hiện xong phần bồi thường trách nhiệm dân sự cho bị hại, được bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, đơn xin cho bị cáo được hưởng án treo; bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng, được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba nên được áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình cũng đảm bảo việc giáo dục và phòng ngừa, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường thiệt hại và không yêu cầu bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[7] Các vấn đề khác

Đối với anh Nguyễn Hồng Q1, Phạm Anh T1, khi hợp đồng thuê thực hiện thi công hạng mục chống sét nhà xưởng Công ty Cổ phần E, đã thỏa thuận, thống nhất bên trực tiếp thi công phải thực hiện biện pháp đảm bảo an toàn về phòng cháy, chữa cháy, không trực tiếp tham gia thực hiện, không có lỗi trong việc gây ra vụ cháy.

Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết các vấn đề nêu trên trong bản án này.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Bị cáo Đào Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy”

Áp dụng: điểm d khoản 1 Điều 313; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đào Văn T 24 (hai mươi tư) tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đào Văn T cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường H trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng Hình sự: hủy Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 162/2023/LCĐKNCT-TA và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 162/2023/QĐTHXC-TA cùng ngày 24/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

[2] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Đào Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[3] Về quyền kháng cáo: án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tối cao, VKSND tối cao;
  • - VKS, CQCSĐT Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự;
  • - THA tỉnh Quảng Ninh;
  • - Bị cáo; bị hại, ncqlnvlq;
  • - Lưu.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2023/HS-ST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về hình sự sơ thẩm về tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy

  • Số bản án: 97/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đào Văn T - VPQĐ về PCCC
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger