|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 97/2024/HS-ST Ngày 25 – 6 – 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Chiều
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Văn Tôn
2. Ông Bùi Quý Minh Ánh
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tham gia phiên toà: Ông Dương Văn Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2024/QĐXXST- HS ngày 21 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 01/01/1992 tại Đ, Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: xóm T, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông: Nguyễn Văn P, sinh năm 1971; Con bà: Lý Thị C, sinh năm 1971; Có vợ là: Đặng Thị L, sinh năm 1993 và có 02 con (con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017); Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 04/01/2024, đến ngày 13/01/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị D – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Quang V; sinh năm 1995; Nơi cư trú: TDP D, phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Người chứng kiến:
- Anh Nguyễn Đăng D1; sinh năm 1979; nơi cư trú: TDP P, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Anh Hà Văn M; sinh năm 1979; nơi cư trú: TDP G, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 15 phút ngày 04/01/2024, tổ công tác của Công an phường B, thành phố P đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ dân phố C, phường B và khu vực giáp ranh đường gom hướng khu công nghiệp Đ đi khu công nghiệp Y thuộc tổ dân phố G, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện Nguyễn Thanh T có biểu hiện nghi vấn tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra thì T khai nhận có cất giấu ma túy trên người, đồng thời lấy từ trong túi da mà T đang đeo trên người ra: 23 túi nilon màu trắng bên trong mỗi túi đều có chứa chất rắn dạng cục màu trắng đục, 12 túi nilon màu trắng bên trong mỗi túi đều chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, 02 túi nilon màu trắng bên trong mỗi túi đều chứa một viên nén màu đỏ và 02 túi nilon màu trắng bên trong mỗi túi đều chứa mảnh viên nén màu đỏ. Theo T khai nhận toàn bộ số chất rắn dạng cục màu trắng, chất rắn dạng tinh thể, viên nén và mảnh viên nén màu đỏ là ma túy loại Heroine, ma túy dạng đá và hồng phiến của T vừa mua của một người nam giới không quen biết tại khu vực cầu vượt cao tốc thuộc tỉnh lộ 266 để về sử dụng cho bản thân. Sau đó, tổ công tác của Công an phường B đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong số vật chứng thu giữ của T rồi bàn giao hồ sơ cùng đối tượng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P giải quyết theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P phối hợp với Phòng K Công an tỉnh T tiến hành cân tổng khối lượng 23 túi chất rắn dạng cục màu trắng đục được 2,374 gam (niêm phong trong phong bì kí hiệu K); 12 túi chất rắn dạng tinh thể được 0,970 gam (niêm phong trong phong bì kí hiệu M); 04 túi nilon có chứa viên nén và mảnh viên nén màu đỏ được 0,265 gam (niêm phong trong phong bì kí hiệu N) gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số: 192/KL- KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu chất rắn dạng cục màu trắng đục trong phong bì kí hiệu K gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng gửi giám định là 2,374 gam; Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong phong bì kí hiệu M gửi giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu giám định là 0,970 gam; Mẫu viên nén màu đỏ và mảnh viên nén màu đỏ trong phong bì kí hiệu N gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu giám định là 0,265 gam.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thanh T khai: Bản thân nghiện chất ma túy từ năm 2019, trước đây T có thời gian làm việc tại khu công nghiệp Đ nên T biết chỗ bán ma túy; khoảng 11 giờ 45 phút ngày 04/01/2024, T bắt xe taxi đi đến khu vực cầu vượt C, thuộc tổ dân phố G, phường H, thành phố P để mua ma túy về sử dụng. Đến nơi, T gặp một người nam giới không quen biết và hỏi “Anh còn đồ không” (ý hỏi là có ma túy bán không) thì người này trả lời “Có, em lấy bao nhiêu”, T bảo “Để cho em 2.300.000 đồng tiền Heroine, 1.200.000 đồng tiền ma túy đá, 300.000 đồng tiền ma túy hồng phiến”. T đưa cho người này tổng số tiền là 3.800.000 đồng, người này cầm tiền rồi đưa cho T 23 túi nilon màu trắng bên trong mỗi túi đều có chứa chất rắn dạng cục màu trắng đục, 12 túi nilon màu trắng bên trong mỗi túi đều chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, 02 túi nilon màu trắng bên trong mỗi túi đều chứa một viên nén màu đỏ và 02 túi nilon màu trắng bên trong mỗi túi đều chứa mảnh viên nén màu đỏ. Mua được ma túy, T cất vào trong túi da màu đen đeo trên người rồi đi ra khu vực rìa đường gom khu công nghiệp hướng khu công nghiệp Đ đi khu công nghiệp Y thuộc tổ dân phố G, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên để sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Công an phường B, thành phố P yêu cầu kiểm tra, T đã tự nguyện giao nộp toàn bộ số ma túy vừa mua được cho lực lượng công an. Lời khai nhận của T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong kí hiệu K, bên trong có 2,356 gam ma túy loại Heroine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong kí hi ệu M, bên trong có 0,870 gam ma túy, loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong kí hiệu N bên trong có 0,148 gam ma túy, loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong kí hiệu L bên trong có chứa vỏ bao mẫu lưu kho; 01 thùng cát tông niêm phong kí hiệu B, bên trong có 01 túi da đeo chéo màu đen được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý.
Do có hành vi nêu trên, nên tại bản Cáo trạng số: 61/CT-VKSPY ngày 09/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như bản Cáo trạng số: 61/CT-VKSPY ngày 09/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Về hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T mức án từ 36 đến 42 tháng tù giam. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 04/01/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong kí hiệu K, bên trong có 2,356 gam ma túy loại Heroine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong kí hiệu M, bên trong có 0,870 gam ma túy, loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong kí hiệu N bên trong có 0,148 gam ma túy, loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong kí hiệu L bên trong có chứa vỏ bao mẫu lưu kho; 01 thùng cát tông niêm phong kí hiệu B, bên trong có 01 túi da đeo chéo màu đen
Ngoài ra, còn đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày bản luận cứ bào chữa cho bị cáo T, tại phiên tòa người bào chữa nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ, hình phạt bổ sung, án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên, về mức hình phạt người bào chữa đề nghị cân nhắc, xem xét nhân thân, hoàn cảnh gia đình bị cáo để giảm hình phạt cho bị cáo, người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 30-36 tháng tù.
Đại diện Viện kiểm sát đối đáp quan điểm của người bào chữa: Đối với mức án Viện kiểm sát đề nghị từ 36-42 tháng tù là Viện kiểm sát đã cân nhắc xem xét toàn diện tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân bị cáo, số lượng ma túy tàng trữ, vì vậy Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đề nghị.
Trong phần tranh luận, bị cáo nhất trí với quan điểm bào chữa của người bào chữa và không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt và xử lý vật chứng mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng.
Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xét xem cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm hòa nhập cộng đồng, thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thanh T tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập hợp lệ trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản thu giữ vật chứng và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do bản thân là người nghiện ma tuý nên hồi 12 giờ 15 phút ngày 04/01/2024, tại khu vực rìa đường gom hướng khu công nghiệp Đ đi khu công nghiệp Y thuộc tổ dân phố G, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Nguyễn Thanh T đã có hành vi tàng trữ trái phép 2,374 gam ma tuý, loại Heroine và 1,235 gam ma túy, loại Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Tổng khối lượng 02 chất ma túy Nguyễn Thanh T tàng trữ là 2,374 + 1,235 = 3,609 gam
Hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Do đó, bản Cáo trạng số: 61/CT-VKSPY ngày 09/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.
Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”.
[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội là do bị cáo không chịu lao động, tu dưỡng, rèn luyện nên đã mắc nghiện ma túy, để phục vụ cho nhu cầu của bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như trên.
[4]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:
- Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự do đó xác định bị cáo là người có nhân thân tốt.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[5]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc loại tội nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, chính trị tại địa phương và làm phát sinh thêm các loại tội phạm khác nên cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra hỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp được chấp nhận.
Đối với mức án người bào chữa đề nghị từ 30-36 tháng tù chưa phù hợp với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo nên không được chấp nhận.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 còn quy định:
“...5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản...”
Tuy nhiên, qua xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm, không có thu nhập ổn định, bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, phạm tội không vì mục đích vụ lợi nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
[7]. Về biện pháp tư pháp: Đối với 01 phong bì niêm phong kí hiệu K, bên trong có 2,356 gam ma túy, loại Heroine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong kí hiệu M, bên trong có 0,870 gam ma túy, loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong kí hiệu N bên trong có 0,148 gam ma túy, loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói; 01 phong bì niêm phong kí hiệu L bên trong có chứa vỏ bao mẫu lưu kho– Xác định là vật cấm lưu thông, không còn giá trị sử dụng nên cần xử lý tịch thu tiêu hủy; 01 thùng cát tông niêm phong kí hiệu B, bên trong có 01 túi da đeo chéo màu đen xác định là vật liên quan đến hành vi phạm tội không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[8]. Về chi phí tố tụng: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo do bị cáo thuộc diện đối tượng hộ cận nghèo theo quy định
[9]. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định
[10]. Về các vấn đề khác của vụ án: Về nguồn gốc số ma túy H và M1, T khai mua của một người nam giới không quen biết tại tại khu vực cầu vượt cao tốc đường tỉnh lộ 266, thuộc tổ dân phố G, phường H, thành phố P. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 329, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Về hình phạt:
- 2.1 Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 40 (bốn mươi) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 04/01/2024.
- - Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Thanh T 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo công tác thi hành án.
- 2.2 Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
- Về biện pháp tư pháp:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ kí hiệu K, ghi hoàn trả 2,356 gam mẫu sau giám định và vỏ bao gói mẫu K; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ kí hiệu M, ghi hoàn trả 0,870 gam mẫu sau giám định và vỏ bao gói mẫu M; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ kí hiệu N ghi hoàn trả 0,148 gam mẫu sau giám định và vỏ bao gói mẫu M; 01 phong bì niêm phong có dấu đỏ kí hiệu L ghi mẫu lưu Nguyễn Thanh T; 01 thùng cát tông niêm phong có dấu đỏ kí hiệu B, ghi bên trong có 01 túi da đeo chéo màu đen
Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố P với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên ngày 09/4/2024.
- Về chi phí tố tụng: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hải Chiều |
Bản án số 97/2024/HS-ST ngày 25/06/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 97/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
