Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2024/DS-ST

Ngày: 25 - 4 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng

tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân chính thức:

  1. Bà Trần Thị Thanh Thủy;
  2. Ông Phạm Hồng Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Sương - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thanh Trúc - Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 341/2023/TLST-DS ngày 20 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 27/2024/QĐST-DS ngày 03 tháng 4 năm 2024.

- Nguyên đơn: Công ty T (Việt Nam).

Trụ sở: I P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo hợp pháp của nguyên đơn:

Bà Nguyễn Phước Quỳnh G, sinh năm 2001

Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre

(Đại diện theo ủy quyền, theo văn bản ủy quyền ngày 20/10/2023) (có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Bà Lâm Thị H, sinh năm: 1970.

Địa chỉ: 1 H, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 22 tháng 9 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 14/12/2021, Công ty T (Việt Nam), (gọi tắt là công ty) ký giấy Đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số: 2685412 về việc cấp tín dụng cho bà Lâm Thị H với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng. Sau khi hợp đồng được ký kết, công ty đã giải ngân và chuyển khoản vào tài khoản cá nhân của bà H số tiền 31.980.000 đồng.

Theo hợp đồng tín dụng, bà Lâm Thị H có nghĩa vụ trả góp tiền gốc, lãi và phí thu hộ hàng tháng với số tiền là 2.055.610 đồng, tháng cuối cùng trả số tiền 1.688.110 đồng trong kỳ hạn 24 tháng, kể từ ngày 10/01/2022 đến ngày 10/12/2023, trả vào ngày 10 tây hàng tháng, theo mức lãi suất là 45%/năm,.

Kể từ ngày được giải ngân đến nay bà Lâm Thị H đã trả góp cho công ty được 10 kỳ với số tiền là 20.615.000 đồng. Bà H thanh toán không đúng số tiền quy định mỗi kỳ nên những kỳ bà H đóng không đủ sẽ phải chịu tiền lãi chậm thanh toán, trong đó cụ thể: Tiền gốc: 10.277.453 đồng, tiền lãi: 10.183.448 đồng, lãi chậm trả đã thanh toán: 34.099 đồng và phí thu hộ: 120.000 đồng.

Từ ngày 14/10/2022 đến nay bà Lâm Thị H không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán trả góp theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với công ty.

Công ty đã nhắc nợ nhiều lần để yêu cầu bà bà H thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng. Đồng thời, ông ty cũng đã gửi thư đề nghị thanh toán để thông báo trực tiếp cho bà H biết về việc đã quá hạn thanh toán. Tuy nhiên, bà H vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng tín dụng cho phía công ty.

Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà Lâm Thị H thanh toán cho công ty T1 số tiền là: 41.749.592 đồng, tạm tính đến ngày 25/4/2024. Trong đó: Nợ gốc: 21.702.547 đồng, tiền lãi trong hạn: 6.515.692 đồng, tiền lãi quá hạn: 12.823.805 đồng, tiền lãi chậm trả: 707.548 đồng.

Ngày 13 tháng 3 năm 2024, bà Nguyễn Phước Q Giao là đại điện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng khác cũng như quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho bà Lâm Thị H nhưng bà H vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu quan điểm về việc tuân thủ pháp luật về tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử từ giai đoạn thụ lý đến khi nghị án là tuân thủ đúng quy định pháp luật, đầy đủ. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật về tố tụng, tuy nhiên bị đơn đã được Tòa án tống đạt các văn bản pháp luật nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay là vi phạm quy định pháp luật về tố tụng.

Về nội dung: Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại Quận A nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét Giấy ủy quyền số 199/2023/GUQ-MAFC ngày 23/5/2023 của Công ty T (Việt Nam) và Giấy ủy quyền ngày 20/10/2023 của Công ty L Tin cho bà Nguyễn Phước Q Giao tham gia tố tụng giải quyết vụ án là hợp lệ nên bà G có đủ tư cách đại diện nguyên đơn tham gia tố tụng tại Tòa án.

[2]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1]. Đối với yêu cầu trả nợ gốc với số tiền 21.702.547 đồng.

Tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”. Tại mục 3.6 Khoản 3 Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng thì các bên thỏa thuận như sau: Hàng tháng bà H có nghĩa vụ trả số tiền là 2.043.610 đồng, tháng cuối cùng trả số tiền 1.688.110 đồng, trả trong vòng kỳ hạn 24 tháng, kể từ ngày 10/01/2022 đến ngày 10/12/2023.

Mặc dù chưa hết hời hạn trả nợ theo Hợp đồng tín dụng, tuy bà H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền gốc của mỗi kỳ thanh toán và tính đến ngày 25/4/2024, bà H còn nợ nguyên đơn số tiền là 21.702.547 đồng là vi phạm thỏa thuận tại hợp đồng mà các bên đã ký kết. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ gốc là 21.702.547 đồng.

[2.2]. Đối với yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ lãi với số tiền là 20.047.045 đồng.

Tại mục 3.7 và 3.8 Điều 1 của Khoản 3 Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng thì các bên thỏa thuận: Lãi suất trong hạn là 45%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.

Tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền lãi tạm tính đến ngày 25/4/2024 là 20.047.045 đồng (trong đó lãi trong hạn là: 6.515.692 đồng, tiền lãi quá hạn là 12.823.805 đồng, tiền lãi chậm trả: 707.548 đồng) là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn tiếp tục trả tiền lãi trên số tiền còn phải thi hành kể từ ngày 26/4/2024 cho đến khi thi hành án xong theo mức lãi suất nợ quá hạn thỏa thuận trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 2685412 ngày 14/12/2021 là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

    Buộc bà Lâm Thị H có nghĩa vụ trả cho Công ty T (Việt Nam) số tiền tạm tính đến ngày 25/4/2024 là: 41.749.592 (bốn mươi mốt triệu, bảy trăm bốn mươi chín nghìn, năm trăm chín mươi hai) đồng. Trong đó bao gồm: Nợ gốc là: 21.702.547 (hai mươi mốt triệu, bảy trăm lẻ hai nghìn, năm trăm bốn mươi bảy) đồng, tiền lãi trong hạn: 6.515.692 (sáu triệu, năm trăm mười lăm nghìn, sáu trăm chín mươi hai) đồng, tiền lãi quá hạn: 12.823.805 (mười hai triệu, tám trăm hai mươi ba nghìn, tám trăm lẻ năm) đồng, tiền lãi chậm trả: 707.548 (bảy trăm lẻ bảy nghìn, năm trăm bốn mươi tám) đồng

    Bà H có trách nhiệm tiếp tục trả tiền lãi trên số tiền còn phải thi hành kể từ ngày 26/4/2024 cho đến khi thi hành án xong theo mức lãi suất nợ quá hạn thỏa thuận trong Giấy đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 2685412 ngày 14/12/2021.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: 2.087.480 đồng (hai triệu, không trăm tám mươi bảy ngàn, bốn trăm tám mươi) đồng, bà Lâm Thị H chịu.

    Công ty T (Việt Nam) không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Công ty T (Việt Nam) số tiền 790.896 đồng (bảy trăm chín mươi nghìn, tám trăm chín mươi sáu) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0035437 ngày 11/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  4. Các đương sự có thời hạn kháng cáo đối với bản án là mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKSND Q.10;
  • - Chi cục THADS Q10;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2024/DS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 97/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger