|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 97/2024/HS-PT Ngày 24-9-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Toại.
Các Thẩm phán: Ông Trần Mười .
Bà Hoàng Thị Mai Hạnh.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đại Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Trần Hoàng Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 113/2024/TLPT-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc N đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 93/2024/HS-ST ngày 10/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thị Ngọc N, sinh ngày 18/8/1996 tại tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: Ấp L, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và con bà Phạm Thị Ngọc D; chồng: Chưa có; có 01 con, sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nhà nghỉ 36 đường H thuộc tổ F, phường N, thành phố Q thuộc sở hữu của ông Nguyễn K làm chủ cơ sở kinh doanh theo Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh số 34A8008278 do UBND thành phố Q cấp ngày 11/3/2015. Tuy nhiên, ông K giao nhà nghỉ này cho Thân Quyết T (vừa là con rể, vừa làm nhân viên của nhà nghỉ) để quản lý kinh doanh với mức lương hàng tháng mà ông K trả cho T là 5.000.000 đồng. Hàng ngày, T có nhiệm vụ trực tiếp quản lý và cho khách thuê phòng, thu tiền rồi giao lại cho ông K.
Thân Quyết T và Tô Hoài D1 là bạn bè quen biết ngoài xã hội. Vào khoảng tháng 5/2020, D1 và T bàn bạc, thỏa thuận với nhau, T chuẩn bị phòng, còn D1 chuẩn bị 03 (Ba) bộ L2, 02 (Hai) bộ đèn mua lắp vào các phòng 203, 204 và 205 để khi khách có nhu cầu “bay” (tức sử dụng ma túy và nghe nhạc mạnh) thì cho thuê phòng cùng loa, đèn để thu lợi bất chính với giá thuê, như sau:
- + Tiền thuê phòng đơn cho một lượt là 1.000.000đồng và thuê phòng đôi cho một lượt là 1.200.000đồng, tiền thuê phòng do T lấy.
- + Tiền thuê bộ L2, đèn: một lượt là 500.000đồng, trong đó T được hưởng lợi 300.000đồng/lượt, còn D1 được hưởng lợi 200.000đồng/lượt. Cứ sau 05 ngày thì T và D1 sẽ tính toán chia nhau số tiền thu lợi từ việc cho khách thuê loa, đèn để sử dụng ma túy.
Vào tối ngày 28/5/2020, sau khi nhậu xong tại thị trấn C, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi; Nguyễn Hữu K1 rủ Nguyễn Duy L vào thành phố Q “bay”. L đồng ý đi nhưng L nói không có tiền để đi “bay”, K1 nói với L là K1 sẽ cho L mượn tiền để cùng góp tiền đi “bay”, khi nào L có tiền sẽ trả lại cho K1 thì L đồng ý. Sau đó, K1 và L đón taxi đi vào thành phố Q. Trên đường đi, K1 liên lạc rủ bị cáo Nguyễn Thị Ngọc N tìm địa điểm để cùng đi “bay”, bị cáo N đồng ý và chỉ cho K1, L đến Nhà nghỉ C, thành phố Q để thuê phòng. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 29/5/2020, K1 và L đến Nhà nghỉ C. Tại đây, K1 và L gặp nhân viên quản lý của nhà nghỉ là T1 Quyết Thắng và Tô Hoài D1; K1 và L đặt vấn đề thuê phòng để “bay”. T và D1 đồng ý, thống nhất với K1 và L là tiền thuê một phòng “bay” tổng cộng là 1.700.000 đồng, trong đó: giá tiền thuê một phòng là 1.000.000đồng, tiền thuê loa, đèn là 500.000đồng và tiền nước uống là 200.000đồng. L đưa giấy chứng minh nhân dân của L cho T rồi T và D1 dẫn K1 và L lên phòng 205 ở tầng hai của nhà nghỉ. Tại phòng, D1 lấy loa đèn, ổ cắm điện và lắp ráp để phục vụ cho việc “bay”; do K1 không mang theo tiền mặt nên K1 đã thanh toán số tiền 1.700.000đồng cho T bằng hình thức chuyển khoản thông qua dịch vụ thanh toán Internet banking từ số tài khoản 1013185012 của K1 sang số tài khoản của D1 là 0271000764417. Sau khi nhận được tiền, D1 dùng tiền mặt 1.700.000 đồng (gồm: 03 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng) của D1 đưa lại cho T.
Sau khi K1, L nhận phòng 205 và thanh toán tiền cho nhà nghỉ xong thì bị cáo Nguyễn Thị Ngọc N rủ thêm Đinh Thị Kiều L1 cùng đến phòng 205 để “tiếp bay” (phục vụ khách sử dụng ma túy). Tại đây, do chưa có ma túy cho cả nhóm sử dụng nên K1 bảo bị cáo N mua ma túy với số lượng 02 chấm ma túy “Khay” và 02 viên ma túy “Kẹo” (thuốc lắc) để cả nhóm sử dụng. Bị cáo N đồng ý và dùng điện thoại của N gọi điện cho một người tên K2 (N không rõ nhân thân, lai lịch) để hỏi mua số lượng ma túy trên với giá 4.000.000đồng, đồng thời thỏa thuận thống nhất là bị cáo N phải chuyển số tiền trên vào số tài khoản 19035760114013 (mang tên Phạm Chí T2, sinh năm 1993; hộ khẩu thường trú: phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai) thì sẽ có người mang ma túy đến giao tại Nhà nghỉ C. Bị cáo N đưa số tài khoản này cho K1, K1 dùng điện thoại di động của mình chuyển số tiền 4.000.000đồng bằng hình thức chuyển khoản thông qua dịch vụ Internet banking qua tài khoản này. Sau khi chuyển tiền xong, khoảng 10 phút sau có một người thanh niên (không rõ lai lịch) đến Nhà nghỉ 36 H Tập gọi điện thoại cho bị cáo N xuống lấy ma túy. Sau khi nhận ma túy, bị cáo N mang lên phòng 205 đưa cho K1 kiểm tra xem đúng số lượng đã mua hay không rồi đưa cho L1 “xào” ma túy “khay” (Ketamine) để sử dụng. Riêng 02 viên ma túy “Kẹo” (Thuốc lắc, loại MDMA) thì K1 lấy 01 viên để “cắn” (uống) ½ viên, còn lại ½ viên thì K1 đưa cho bị cáo N sử dụng. Riêng 01 viên ma túy “Kẹo” (thuốc lắc, loại MDMA) còn lại, L sử dụng ½ viên rồi đưa ½ viên còn lại cho L1 sử dụng nhưng L1 không sử dụng mà bỏ lại trên đĩa cùng với ma túy Ketamine mà L1 đã “xào” để cho cả nhóm sử dụng. Sau khi L1 “xào” ma túy “khay” (Ketamine) xong thì L1 đưa đĩa sứ có chứa ma túy “khay" (Ketamine) và ½ viên ma túy thuốc lắc cho lần lượt Nguyễn Hữu K1, Nguyễn Duy L, Nguyễn Thị Ngọc N và L1 để hít ma túy “khay” (Ketamine), rồi cả nhóm “Bay lắc” theo tiếng nhạc tại phòng 205. Trong lúc cả nhóm đang sử dụng ma túy và "bay lắc” thì đến khoảng 02 giờ 00 phút ngày 29/5/2020 Công an thành phố Q kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ số ma túy “khay” (Ketamine) và ½ viên “kẹo” (thuốc lắc, MDMA) còn lại trên đĩa sứ do cả nhóm chưa sử dụng hết, cùng với các vật dụng để sử dụng ma túy, loa đèn và một số tang vật có liên quan. Công an thành phố Q tiến hành kiểm tra xung quanh còn phát hiện tại các phòng số 203, 204 đều có hệ thống loa, đèn mà theo khai nhận của các bị cáo D1 và T là đã lắp đặt trước cho khách có nhu cầu thuê phòng để “bay” nhằm thu lợi.
Tại Kết luận giám định số: 392/KLGĐ-PC09 ngày 04/6/2020 của Phòng K3 (PC09) - Công an tỉnh Q kết luận đối tượng giám định như sau:
- + Chất rắn dạng hạt tinh thể màu trắng bên trong bì thư số 1 gửi giám định là ma túy; loại: Ketamine; khối lượng: 0,10 gam.
- + Viên nén kích thước (0,9 × 0,7)cm, màu vàng, không rõ hình dạng (bị khuyết một phần) bên trong bì thư số 2 gửi giám định là ma túy; loại: MDMA; khối lượng: 0,21 gam.
Hoàn trả trực tiếp đối tượng còn lại sau giám định là 0,04 gam mẫu chất rắn (Ketamine) và 0,10 gam mẫu viên nén (MDMA) cùng vỏ bao gói niêm phong còn lại sau giám định được niêm phong trong cùng một phong bì số 392/PC09(GĐ-2020) có đóng giáp lai của Phòng K3 - Công an tỉnh Q.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 93/2024/HS-ST ngày 10/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về phần tội danh, hình phạt đối với các bị cáo Thân Quyết T, Tô Hoài D1, Nguyễn Hữu K1, Nguyễn Duy L, Đinh Thị Kiều L1; về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 18/7/2024, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo N giữ nguyên nội dung kháng cáo.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi về việc giải quyết vụ án:
- Về tội danh: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị Ngọc N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ, vai trò thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo N, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo N không cung cấp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên không có cơ sở xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt mà bản án sơ thẩm đã tuyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét hành vi của bị cáo: Tối ngày 28/5/2020, tại phòng 205 Nhà N H thuộc tổ F, phường N, thành phố Q do Thân Quyết T quản lý, Nguyễn Hữu K1, Nguyễn Duy L thống nhất cùng nhau đi “bay” (tức sử dụng trái phép chất ma túy). Nguyễn Hữu K1 rủ bị cáo Nguyễn Thị Ngọc N cùng tham gia sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo N là người chỉ cho K1, L thuê địa điểm tại phòng 205 Nhà N H để phục vụ cho việc sử dụng trái phép chất ma túy, rủ Đinh Thị Kiều L1 cùng tham gia phục vụ K1, L sử dụng trái phép chất ma túy và cũng là người liên hệ mua ma túy cho cả nhóm sử dụng.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Bị cáo nhận thức được việc sử dụng ma túy trái phép bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý tham gia cùng với các bị cáo khác tổ chức, lôi kéo người khác cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma túy mà còn gây rất nhiều hệ lụy cho xã hội, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của chính những người sử dụng trái phép chất ma túy và là nguyên nhân phát sinh nhiều hành vi phạm tội khác.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị Ngọc N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ, vai trò hành vi phạm tội của bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và đã áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc N dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp, không nặng. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
[3] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).
[5] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc N. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 93/2024/HS-ST ngày 10/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc N 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quang Toại |
6
Bản án số 97/2024/HS-PT ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 97/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Ngọc N
