Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2024/HS-ST

Ngày 24-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Hằng
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hiếu
  • Bà Nguyễn Thị Lý
  • Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thùy Khánh Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 85/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. 1. PHAN VĂN THẮNG; sinh ngày: 24/4/1994; nơi sinh: Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: K T, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn D (sinh năm: 1954, còn sống) và bà Lê Thị Lan H (sinh năm: 1950, còn sống); gia đình có 06 người con, bị cáo là con thứ sáu; vợ Nguyễn Thị Phương T (sinh năm: 1998); bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  2. 2. NGUYỄN THỊ KHÔI SINH (Đen); sinh ngày: 19/8/1990; nơi sinh: Đà Nẵng; nơi cư trú: Tổ E, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N (sinh năm: 1962, còn sống) và bà Trần Thị Diễm L (sinh năm: 1965, đã chết); gia đình có 07 người con, bị cáo là con thứ tư; chồng Huỳnh Ngọc N1; bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  3. 3. BÙI THỊ PHƯƠNG THẢO (P, G); sinh ngày: 21/12/1985; nơi sinh: Đà Nẵng; nơi cư trú: Thôn B, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Á (sinh năm: 1960, còn sống) và bà Nguyễn Thị N2 (sinh năm: 1964, còn sống); gia đình có 02 người con, bị cáo là con thứ nhất; chồng Nguyễn Bá D1 (sinh năm: 1983); bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  4. 4. TRẦN THỊ HỘI; sinh ngày: 20/01/1972; nơi sinh: Đà Nẵng; nơi cư trú: Tổ E, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quang T1 (sinh năm: 1929, đã chết) và bà Nguyễn Thị A (sinh năm: 1933, đã chết); gia đình có 10 người con, bị cáo là con thứ tám; chồng Phạm Ngọc L1; bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  5. 5. NGUYỄN KIM TIẾN (Bột); sinh ngày: 25/11/1978; nơi sinh: Đà Nẵng; nơi cư trú: Tổ H, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P1 (sinh năm: 1940, đã chết) và bà Lê Thị S (sinh năm: 1950, đã chết); gia đình có 07 người con, bị cáo là con thứ sáu; vợ Đào Thị Ngọc T2, sinh năm: 1984; bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  6. 6. ĐẶNG THỊ BÍCH THUẬN; sinh ngày: 29/9/1970; nơi sinh: Đà Nẵng; nơi cư trú: Tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Ngọc L2 (sinh năm: 1937, đã chết) và bà Lê Thị N3 (sinh năm: 1936, đã chết); gia đình có 05 người con, bị cáo là con thứ tư; có 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  7. 7. ĐOÀN VĂN SANG; sinh ngày: 19/9/1973; nơi sinh: Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Tổ H, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn T3 (sinh năm: 1949, đã chết) và bà Võ Thị Đ (sinh năm: 1950, còn sống); gia đình có 08 người con; bị cáo là con thứ ba; vợ Huỳnh Thị B (sinh năm: 1971); bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 29/4/2024, tại quán nước giải khát số K ngõ C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, Trần Thị H1, Nguyễn Thị Khôi S1 và Bùi Thị Phương T4 rủ nhau cùng chơi đánh bạc được thắng thua bằng tiền. Sau đó, lần lượt có thêm Phan Văn T5, Nguyễn Kim T6, Đặng Thị Bích T7 cũng đến tham gia. Cả nhóm sử dụng bàn ghế của quán nước và bài tú lơ khơ do Đoàn Văn S2 (là chủ quán) cung cấp để chơi đánh bạc được thắng thua bằng tiền dưới hình thức “xì lát”. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày thì cả nhóm bị Công an phường H phát hiện, bắt quả tang. Quá trình điều tra xác định:

  • Trần Thị H1 mang theo 1.025.000 đồng, đã thua hết 1.000.000 đồng và trả tiền xâu 20.000 đồng, tại thời điểm phát hiện không thu giữ số tiền nào trên người, chỉ còn 5.000 đồng để trên bàn để trả tiền nước (thu giữ chung trong số tiền 245.000 đồng trên bàn).
  • Nguyễn Thị Khôi S1 mang theo 3.330.000 đồng, trong đó có 110.000 đồng tại túi áo khoác bên phải của S1 để mua sữa cho con, đã thắng được 900.000 đồng và trả tiền xâu 20.000 đồng, đến khi bị phát hiện thu được 3.900.000 đồng tại ghế ngồi của S1 dùng để đánh bạc và 200.000 đồng trên bàn là của S1 đang dùng để đặt cược.
  • Bùi Thị Phương T4 mang theo 2.500.000 đồng, đã thua hết 150.000 đồng, đến khi bị phát hiện thu được 2.300.000 đồng dùng trong túi đeo trước bụng để đánh bạc, trên bàn trước mặt T4 có 40.000 đồng đang dùng để đặt cược, 10.000 đồng trả tiền nước.
  • Phan Văn T5 mang theo 4.430.000 đồng, trong đó có 670.000 đồng trong ví ở túi quần sau bên phải là tiền T5 để chi tiêu xăng xe, mua đồ cho con, quá trình chơi đã thắng được 100.000 đồng và trả tiền xâu 60.000 đồng, đến khi bị phát hiện thu được 3.800.000 đồng tại túi quần trước bên trái để đánh bạc.
  • Nguyễn Kim T6 mang theo 1.215.000 đồng, đã thắng được 150.000 đồng, đến khi bị phát hiện thu được 1.365.000 đồng tại túi quần trước bên phải dùng để đánh bạc.
  • Đặng Thị Bích T7 mang theo 1.000.000 đồng, đến khi bị phát hiện thu được 1.000.000 đồng tại túi quần bên phải để đánh bạc.
  • Đến thời điểm bị phát hiện, Đoàn Văn S2 đã thu được 100.000 đồng tiền xâu.

* Tang vật tạm giữ :

  • - Số tiền 245.000 đồng thu tại chiếu bạc, trong đó có: 200.000 đồng của Nguyễn Thị Khôi S1, 40.000 đồng của Bùi Thị Phương T4 dùng để đặt cược, 5.000 đồng của Trần Thị H1 để trả tiền mua nước.
  • - Số tiền 13.145.000 đồng thu trên người của các đối tượng, bao gồm: 4.010.000 đồng của Nguyễn Thị Khôi S1; 2.300.000 đồng của Bùi Thị Phương T4; 4.470.000 đồng của Phan Văn T5; 1.365.000 đồng của Nguyễn Kim T6; 1.000.000 đồng của Đặng Thị Bích T7;
  • - Số tiền 100.000 đồng của Đoàn Văn S2 tự nguyện giao nộp;
  • - 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá; 02 bàn nhựa và 07 ghế nhựa.

Tại Bản cáo trạng số: 88/CT-VKSCL ngày 31/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng truy tố các bị cáo: Trần Thị H1, Nguyễn Thị Khôi S1, Bùi Thị Phương T4, Phan Văn T5, Nguyễn Kim T6, Đặng Thị Bích T7Đoàn Văn S2 về tội “ Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • * Về tội danh: Đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Trần Thị H1, Nguyễn Thị Khôi S1, Bùi Thị Phương T4, Phan Văn T5, Nguyễn Kim T6, Đặng Thị Bích T7Đoàn Văn S2 về tội “ Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
  • * Về hình phạt:
  1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Thị H1 từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị K Sinh từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
  3. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Bùi Thị Phương T4 từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
  4. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phan Văn T5 từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
  5. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Kim T6 từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
  6. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đặng Thị Bích T7 từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
  7. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đoàn Văn S2 từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
  • * Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử phạt bổ sung số tiền 10.000.000đồng đối với bị cáo Nguyễn Thị Khôi S1; 20.000.000đồng đối với bị cáo Bùi Thị Phương T4; 25.000.000đồng đối với bị cáo Phan Văn T5 và 15.000.000đồng đối với các bị cáo Nguyễn Kim T6, Đặng Thị Bích T7Đoàn Văn S2. Đối với bị cáo Trần Thị H1 có hoàn cảnh gia đình khó khăn, chồng bị bệnh nặng nên đề nghị không phạt bổ sung.
  • * Về xử lý vật chứng:
  • - Đối với số tiền 5.000 đồng thu giữ của Trần Thị H1 không liên quan đến hành vi đánh bạc nên đề nghị trả lại cho bị cáo H1.
  • - Đối với số tiền 110.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị Khôi S1 tại túi áo khoác bên phải của S1 để mua sữa cho con, không liên quan đến hành vi đánh bạc nên đề nghị trả lại cho bị cáo S1.
  • - Đối với số tiền 670.000 đồng Phan Văn T5 dùng để mua xăng không liên quan đến hành vi đánh bạc nên đề nghị trả lại cho bị cáo T5.
  • - Đối với số tiền thu giữ trên người các bị cáo và thu tại chiếu bạc là 12.705.000đồng là tiền dùng để đánh bạc nên đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • - Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá; 02 bàn nhựa và 07 ghế nhựa là công cụ, phương tiện phạm tội không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

* Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và các bị cáo nói lời sau cùng:

  1. Bị cáo Trần Thị H1: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  2. Bị cáo Nguyễn Thị Khôi S1: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  3. Bị cáo Bùi Thị Phương T4: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối cải, bị cáo có 03 con nhỏ, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  4. Bị cáo Phan Văn T5: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và giảm nhẹ mức phạt tiền.
  5. Bị cáo Nguyễn Kim T6: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  6. Bị cáo Đặng Thị Bích T7: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và giảm nhẹ mức phạt tiền.
  7. Bị cáo Đoàn Văn S2: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố; lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Có đủ cơ sở kết luận: Từ khoảng 13 giờ 30 phút đến 15 giờ ngày 29/4/2024, tại quán nước giải khát số K Ngõ C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, Trần Thị H1, Nguyễn Thị Khôi S1, Bùi Thị Phương T4, Phan Văn T5, Nguyễn Kim T6, Đặng Thị Bích T7 đã cùng nhau đánh bạc trái phép dưới hình thức bài “Xì lát” được thua bằng tiền, với số tiền dùng để đánh bạc là 12.705.000 đồng. Đoàn Văn S2 đã có hành vi cung cấp bài tú lơ khơ và bàn ghế tại quán nước của mình để giúp sức cho những người trên chơi đánh bạc nhằm để bán nước giải khát và thu tiền xâu với số tiền là 100.000 đồng. Hội đồng xét xử xác định, hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “ Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như cáo trạng số 88/CT-VKSCL ngày 31/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo thì thấy:

[3.1] Các bị cáo đánh bạc thắng thua bằng tiền, hình thức đánh bạc là “Xì lát”, các bị cáo sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 lá để đánh bạc, người chơi đặt tiền để ở dưới phía trước chỗ ngồi, sau đó người cầm cái chia bài cho những người chơi khác trước theo vòng thứ tự rồi đến mình, mỗi người hai lá, sau khi chia bài xong, tất cả kiểm tra 02 lá bài của mình đã được chia và có thể bốc thêm tối đa 03 lá bài nữa để phân định thắng thua theo thứ tự: nếu người chơi hoặc người cầm cái có 02 con Át (A) thì gọi là “xì bàn”, tiếp đến là “xì lát” (là một con Át và một trong các lá bài 10, J, Q, K), rồi đền “ngũ L3” (là có 05 con bài cộng lại dưới 21 điểm) và sau cùng là tính điểm bằng số thứ tự các con bài từ 2 đến 10 (riêng J, Q, K được quy ước 10 điểm mỗi lá bài). Người nào cao điểm thì thắng, người chơi được tính từ 16 đến 21 điểm, còn cái được tính từ 15 đến 21 điểm, nếu người chơi có tổng số điểm vượt quá 21 điểm gọi là “oác” là người đó thua, hoặc người chơi có 15 điểm của 02 lá bài cộng lại nhưng không bốc tiếp thì phải đền L4. Số tiền thắng thua tương ứng với số tiền đặt cược của người chơi, nếu thắng thì người cầm cái lấy hết, nếu thua thì người cầm cái phải chung cho người chơi số tiền tương ứng. Mỗi ván chơi người chơi đặt từ 01 đến 02 “cửa”, mỗi cửa đặt cược từ 10.000 đồng đến 200.000 đồng. Người chơi cầm cái xoay vòng, mỗi người cầm cái 03 ván thì đổi cho người khác, mỗi lượt cầm cái Đoàn Văn S2 thu tiền xâu 20.000 đồng. Trong đó:

  • [3.1.1] Trần Thị H1 mang theo 1.025.000 đồng, đã thua hết 1.000.000 đồng và trả tiền xâu 20.000 đồng, tại thời diểm phát hiện không thu giữ số tiền nào trên người, chỉ còn 5.000 đồng để trên bàn để trả tiền nước (thu giữ chung trong số tiền 245.000 đồng trên bàn).
  • [3.1.2] Nguyễn Thị Khôi S1 mang theo 3.330.000 đồng, trong đó có 110.000 đồng tại túi áo khoác bên phải của S1 để mua sữa cho con, đã thắng được 900.000 đồng và trả tiền xâu 20.000 đồng, đến khi bị phát hiện thu được 3.900.000 đồng tại ghế ngồi của S1 dùng để đánh bạc và 200.000 đồng trên bàn là của S1 đang dùng để đặt cược.
  • [3.1.3] Bùi Thị Phương T4 mang theo 2.500.000 đồng, đã thua hết 150.000 đồng, đến khi bị phát hiện thu được 2.300.000 đồng dùng trong túi đeo trước bụng để đánh bạc, trên bàn trước mặt T4 có 40.000 đồng đang dùng để đặt cược, 10.000đồng trả tiền nước.
  • [3.1.4] Phan Văn T5 mang theo 4.430.000 đồng, trong đó có 670.000 đồng trong ví ở túi quần sau bên phải là tiền T5 để chi tiêu xăng xe, mua đồ cho con, quá trình chơi đã thắng được 100.000 đồng và trả tiền xâu 60.000 đồng, đến khi bị phát hiện thu được 3.800.000 đồng tại túi quần trước bên trái để đánh bạc.
  • [3.1.5] Nguyễn Kim T6 mang theo 1.215.000 đồng, đã thắng được 150.000 đồng, đến khi bị phát hiện thu được 1.365.000 đồng tại túi quần trước bên phải dùng để đánh bạc.
  • [3.1.6] Đặng Thị Bích T7 mang theo 1.000.000 đồng, đến khi bị phát hiện thu được 1.000.000 đồng tại túi quần bên phải để đánh bạc.
  • [3.1.7] Đoàn Văn S2 không trực tiếp đánh bạc nhưng đã có hành vi giúp sức, thu được 100.000 đồng tiền xâu.

[3.2] Hành vi “Đánh bạc” của các bị cáo đã xâm phạm đến an ninh trật tự công cộng, ảnh hưởng đến cuộc sống của chính mỗi gia đình, nếp sống văn minh của xã hội, gây ra tệ nạn cờ bạc trong xã hội nên cần phải xử phạt nghiêm nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

[3.3] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[3.4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo H1 có hoàn cảnh gia đình khó khăn, chồng bị cáo H1 bị bệnh tăng áp phổi nguyên phát, suy tim, gout; cha ruột bị cáo T5 là thương binh; bị cáo T6S2 không biết chữ nên nhận thức về pháp luật có phần hạn chế; bị cáo S1 đang nuôi 03 con nhỏ, trong đó có con dưới 36 tháng tuổi; bị cáo T4 đang nuôi 03 con nhỏ; bị cáo T7 là mẹ đơn thân nuôi con nhỏ nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Xét tính chất vụ án là ít nghiêm trọng; các bị cáo có nhân thân tốt; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, các bị cáo là lao động chính trong gia đình, số tiền đánh bạc không lớn, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao các bị cáo về địa phương giám sát và giáo dục cũng thỏa đáng.

[5] Bị cáo T5, S1T4 có số tiền dùng để đánh bạc nhiều hơn các bị cáo khác nên phải chịu mức hình phạt cao hơn, trong đó bị cáo T5 có số tiền dùng để đánh bạc nhiều hơn bị cáo S1 và bị cáo T4 nên mức hình phạt của bị cáo T5 cao hơn bị cáo S1 và bị cáo T4. Bị cáo H1, T6, T7S2 chịu mức hình phạt bằng nhau.

[6] Phạt bổ sung:

  • [6.1] Đối với bị cáo Trần Thị H1 có hoàn cảnh gia đình khó khăn, chồng bị bệnh nặng nên không phạt bổ sung.
  • [6.2] Phạt bổ sung số tiền 20.000.000đồng đối với bị cáo Phan Văn T5.
  • [6.3] Phạt bổ sung 15.000.000đồng đối với bị cáo Bùi Thị Phương T4.
  • [6.4] Phạt bổ sung 10.000.000đồng đối với các bị cáo Nguyễn Thị Khôi S1, Nguyễn Kim T6, Đặng Thị Bích T7Đoàn Văn S2.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • [7.1] Đối với số tiền 5.000 đồng thu giữ của Trần Thị H1 không liên quan đến hành vi đánh bạc nên trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên, cần tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.
  • [7.2] Đối với số tiền 110.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị Khôi S1 tại túi áo khoác bên phải của S1 để mua sữa cho con, không liên quan đến hành vi đánh bạc nên trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên, cần tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.
  • [7.3] Đối với số tiền 670.000 đồng thu giữ của Phan Văn T5 dùng để mua xăng không liên quan đến hành vi đánh bạc nên trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên, cần tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.
  • [7.4] Đối với số tiền thu giữ trên người các bị cáo và thu tại chiếu bạc là 12.705.000đồng là tiền dùng để đánh bạc nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • [7.5] Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá; 02 bàn nhựa và 07 ghế nhựa là công cụ phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[8] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa có quan điểm phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử xử nên chấp nhận. Tuy nhiên, do hoàn cảnh của các bị cáo khó khăn, đang nuôi con nhỏ nên Hội đồng xét xử xử phạt bổ sung thấp hơn mức Kiểm sát viên đề nghị.

[9] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

I. Tuyên bố: Các bị cáo: Phan Văn T5, Nguyễn Thị Khôi S1, Bùi Thị Phương T4, Trần Thị H1, Nguyễn Kim T6, Đặng Thị Bích T7Đoàn Văn S2 phạm tội “Đánh bạc”.

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Phan Văn T5 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 24/9/2024.

    Giao bị cáo Phan Văn T5 về Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Khôi S1 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 24/9/2024.

    Giao bị cáo Nguyễn Thị Khôi S1 về Ủy ban nhân dân phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Bùi Thị Phương T4 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 24/9/2024.

    Giao bị cáo Bùi Thị Phương T4 về UBND xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  4. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Thị H1 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 24/9/2024.

    Giao bị cáo Trần Thị H1 về Ủy ban nhân dân phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  5. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Kim T6 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 24/9/2024.

    Giao bị cáo Nguyễn Kim T6 về Ủy ban nhân dân phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  6. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Đặng Thị Bích T7 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 24/9/2024.

    Giao bị cáo Đặng Thị Bích T7 về Ủy ban nhân dân phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  7. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Đoàn Văn S2 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 24/9/2024.

    Giao bị cáo Đoàn Văn S2 về Ủy ban nhân dân phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

II. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên:

  1. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài tú lơ khơ 52 lá; 02 (hai) bàn nhựa và 07 (bảy) ghế nhựa.
  2. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 12.705.000đồng (Mười hai triệu bảy trăm lẻ năm nghìn đồng).
  3. Trả lại cho Trần Thị H1 số tiền 5.000 đồng (Năm nghìn đồng), tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.
  4. Trả lại cho Nguyễn Thị Khôi S1 số tiền 110.000 đồng (Một trăm mười nghìn đồng), tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.
  5. Trả lại cho Phan Văn T5 số tiền 670.000 đồng (Sáu trăm bảy mươi nghìn đồng), tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.

    (Vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/9/2024 và giấy nộp tiền ngày 18/9/2024 tại Ngân hàng N4 - Chi nhánh quận C).

III. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 2 Điều 35, khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

  1. Phạt bổ sung số tiền 20.000.000đồng (Hai mươi triệu đồng) đối với bị cáo Phan Văn T5.
  2. Phạt bổ sung số tiền 15.000.000đồng (Mười lăm triệu đồng) đối với bị cáo Bùi Thị Phương T4.
  3. Phạt bổ sung số tiền 10.000.000đồng (Mười triệu đồng) đối với các bị cáo Nguyễn Thị Khôi S1, Nguyễn Kim T6, Đặng Thị Bích T7Đoàn Văn S2.

IV. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

IV. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 24/9/2024.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Đà Nẵng;
  • - VKSND TP. Đà Nẵng
  • - Công an Q. Cẩm Lệ;
  • - VKSND Q. Cẩm Lệ;
  • - Chi cục THADS Q. Cẩm Lệ;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Lệ Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 97/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Hội cùng đồng phạm phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger