Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2023/HS-ST

Ngày: 24/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Văn Nguyên

2. Bà Vũ Thị Ngọc Phan

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Giáp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Lưu Nguyên Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2023 tại điểm cầu trung tâm: Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 82/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

  • - Họ và tên: Nguyễn Thành C; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 09 tháng 01 năm 2003 tại huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
  • - ĐKTT và chỗ ở: Xóm D, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
  • - Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 12/12; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Nguyễn Hữu V (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm: 1981; HKTT và chỗ ở: Xóm D, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có.
  • Tiền án 01: Tại bản án HSST số 02 ngày 21/02/2022, Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xử phạt C 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/11/2022.
  • - Tiền sự: Không.
  • Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/5/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt tại phiên tòa)
  • * Bị hại: Anh Đinh Quang S, sinh ngày 21/3/2006
  • Nơi cư trú: Xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (Có đơn xin xét xử vắng mặt);
  • Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Dương Thị C1, sinh năm 1978;
  • Nơi cư trú: Xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (Có đơn xin xét xử vắng mặt);
  • * Người làm chứng: - Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1996;
  • Nơi cư trú: Xóm Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (vắng mặt);
  • - Anh Nguyễn Trường G, sinh năm 1990;
  • Nơi cư trú: TDP C, phường N, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (vắng mặt);
  • - Anh Lê Văn H, sinh năm 1971;
  • Nơi cư trú: Xóm L, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (vắng mặt);
  • - Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1987;
  • Nơi cư trú: Xóm L, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (vắng mặt);
  • - Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1981;
  • Nơi cư trú: Xóm D, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 09/5/2023, Nguyễn Thành C đến chơi game tại quán Internet HT thuộc xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên thì gặp anh Đinh Quang S đang chơi game tại đây, C nhìn thấy anh Nguyễn Văn L, ngồi tại máy bên tay phải của C mượn 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu đen của anh S để sử dụng rồi trả lại cho anh S. Thấy anh S dễ dàng trong việc cho người khác mượn điện thoại nên C đã nảy sinh ý định mượn điện thoại của anh S để chiếm đoạt mang bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. C đứng dậy đi lại gần và hỏi anh S cho mượn điện thoại để chuyển tiền (mục đích C đưa ra lý do mượn điện thoại là lừa dối để anh S tin tưởng cho mượn, thực tế C không chuyển tiền và cũng không có tiền để chuyển), anh S đồng ý và đưa điện thoại cho C mượn. C cầm điện thoại đi về chỗ ngồi tháo ốp điện thoại ra để ở bàn, lợi dụng anh S đang chơi game không để ý, C đứng dậy đi ra quầy thanh toán trả tiền chơi game rồi đi ra khỏi quán thuê xe taxi mang điện thoại của anh S đến quán điện thoại “Giang M” của anh Nguyễn Trường G, sinh năm 1990, trú tại tổ dân phố C, phường N, thành phố P tỉnh Thái Nguyên bán cho anh G lấy số tiền 2.000.000 đồng, C không nói với anh G là điện thoại do chiếm đoạt của anh S mà có, sau đó C đi xe taxi về nhà. Đối với anh S, sau khi cho C mượn điện thoại được khoảng 20 phút không thấy C trả lại, nhìn xung quanh quán game thì không thấy C nên

anh S đi đến vị trí bàn máy tính C ngồi lúc trước thì thấy chiếc ốp điện thoại để trên bàn máy tính, anh S mượn 01 chiếc điện thoại ở quán game đăng nhập vào tài khoản Icloud cài trên điện thoại của anh S để tìm vị trí điện thoại thì thấy vị trí điện thoại đang ở khu vực phường N, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên nên đã đến Công an xã Đ, huyện P trình báo sự việc đề nghị giải quyết, giao nộp chiếc ốp điện thoại Cương tháo để lại trên bàn. Công an xã Đ đã tiến hành xác minh và cùng anh S đến vị trí của chiếc điện thoại thì thấy vị trí điện thoại đang ở khu vực quán điện thoại của anh G. Quá trình làm việc, anh G đã tự nguyện giao nộp một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11 Pro Max, 64G, màu đen, số IMEI: 353901108580798, số IMEI 2: 353901108672207 cho Công an xã Đ. Sau đó, anh G đã gọi điện cho C nói về việc có lực lượng Công an đến quán điện thoại làm việc liên quan đến chiếc điện thoại của C đã bán thì C đã đưa số tiền bán điện thoại là 2.000.000 đồng cho chú của C là anh Lê Văn H và nhờ anh H cùng C đi chuộc điện thoại trả cho anh S. Sau đó C cùng anh H, vợ anh H là chị Nguyễn Thị H1 và mẹ của C là bà Nguyễn Thị N, đến trả số tiền 2.000.000 đồng cho anh G. Đến 16 giờ 15 phút cùng ngày C đến Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đầu thú và khai nhận hành vi đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh S như đã nêu trên, đồng thời giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra trang phục gồm quần, áo và khẩu trang C mặc khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là điện thoại của anh S.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành trích xuất hình ảnh từ đầu thu của C2 an ninh tại quán I và quán mua bán sửa chữa điện thoại “Giang M” xác định: Nguyễn Thành C đến quán I để chơi điện tử và đi đến vị trí của anh S ngồi mượn điện thoại rồi tháo ốp điện thoại để trên bàn nơi C ngồi chơi điện tử, đi ra khu vực thanh toán tiền và đi ra khỏi quán. Sau đó C mang điện thoại đến bán cho anh G, cầm tiền rồi ra về.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 45/KL-HĐĐGTS ngày 16/5/2023, Hội đồng định giá tài sản kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11 Pro Max, màu đen, dung lượng 64GB, đã qua sử dụng có giá trị là 4.500.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo Nguyễn Thành C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của C là có căn cứ, phù hợp với đơn trình báo của bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ, bản ảnh hiện trường, biên bản kiểm tra hình ảnh Camera an ninh, vật chứng thu giữ, biên bản kiểm tra điện thoại, kết luận định giá tài sản, lời khai của người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu chứng cứ khác mà cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Bị hại là anh Đinh Quang S khai: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 09/5/2023, S đang chơi game tại quán Internet HT thuộc xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên thì có Nguyễn Thành C đến hỏi anh S cho mượn điện thoại để chuyển

tiền, anh S đồng ý và đưa điện thoại cho C mượn. Khoảng 20 phút không thấy C trả lại điện thoại, nhìn xung quanh quán game thì không thấy C nên anh S đi đến vị trí bàn máy tính C ngồi lúc trước thì thấy chiếc ốp điện thoại để trên bàn máy tính, anh S mượn 01 chiếc điện thoại ở quán game đăng nhập vào tài khoản Icloud cài trên điện thoại của anh S để tìm vị trí điện thoại thì thấy vị trí điện thoại đang ở khu vực phường N, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên nên đã đến Công an xã Đ, huyện P trình báo sự việc đề nghị giải quyết, giao nộp chiếc ốp điện thoại Cương tháo để lại trên bàn. Công an xã Đ đã tiến hành xác minh và cùng anh S đến vị trí của chiếc điện thoại thì thấy vị trí điện thoại đang ở khu vực quán điện thoại của anh Nguyễn Trường G. Quá trình làm việc, anh G đã tự nguyện giao nộp một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11 Pro Max, 64G, màu đen, số IMEI: 353901108580798, số IMEI 2: 353901108672207 cho Công an xã Đ. Anh S đã nhận được chiếc điện thoại trên. Nay anh không có yêu cầu gì khác.

Nguyễn Trường G khai mua chiếc điện thoại nhãn hiệu Apple Iphone 11 Pro Max, 64G, màu đen của Nguyễn Thành C với giá 20.000.000đ, anh G không biết đó là tài sản do C phạm tội mà có, anh G đã tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11 Pro Max, 64G, màu đen, số IMEI: 353901108580798, số IMEI 2: 353901108672207 cho Công an xã Đ. Đến nay G đã nhận lại được số tiền 2.000.000đ do C trả và không có yêu cầu gì khác.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo Nguyễn Thành C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của C là có căn cứ, phù hợp với đơn trình báo của bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ, bản ảnh hiện trường, biên bản kiểm tra hình ảnh Camera an ninh, vật chứng thu giữ, biên bản kiểm tra điện thoại, kết luận định giá tài sản, lời khai của người bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác mà cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án gồm:

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11 Pro Max, 64G cùng 01 chiếc ốp điện thoại, ngày 29/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại tài sản nêu trên cho anh Đinh Quang S quản lý sử dụng.
  • 01 áo khoác màu đen xám có khóa phía trước, cổ áo gắn mác ký hiệu C3; 01 áo Polo màu đen phía trước ngực bên trái có thêu chữ GG màu đỏ trắng, cổ áo gắn mác ký hiệu Focus Price; 01 quân vải dài màu đen; 01 khâu trang bằng vải màu trắng tình trạng đã qua sử dụng được niêm phong trong hộp catton ký hiệu CUONG 2003, hiện đang được bảo quản tại kho của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Anh S đã nhận lại chiếc điện thoại bị C chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác.

Bản Cáo trạng số 89/CT -VKSPB ngày 19 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Thành C khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố.

Trong lời luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thành C về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành C từ 24 đến 30 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Vật chứng là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11 Pro Max, 64G cùng 01 chiếc ốp điện thoại đã được trả lại cho bị hại quản lý và sử dụng.

Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác màu đen xám có khóa phía trước, cổ áo gắn mác ký hiệu C3; 01 áo Polo màu đen phía trước ngực bên trái có thêu chữ GG màu đỏ trắng, cổ áo gắn mác ký hiệu Focus Price; 01 quần vải dài màu đen; 01 khẩu trang bằng vải màu trắng tình trạng đã qua sử dụng.

Phần dân sự: Bị hại đã nhận lại được tài sản, không có đề nghị gì đối với bị cáo.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là không oan, đúng người, đúng tội.

Phần lời nói sau cùng bị cáo ăn năn hối cải, xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện P, tỉnh Thái Nguyên trong quá trình điều

tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn tự nguyện, khách quan và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: đơn trình báo, biên bản xác định hiện trường, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra. Như vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:

Khoảng 10 giờ ngày 09/5/2023, tại quán I thuộc xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Do không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Thành C đã dùng thủ đoạn gian dối là mượn điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11 Pro Max, màu đen, dung lượng 64GB có giá trị 4.500.000 đồng của anh S để chuyển tiền nhưng thực chất là để anh S tin tưởng và cho mượn (bản thân C không có tiền để chuyển), lợi dụng lúc anh S không chú ý C đã mang chiếc điện thoại của anh S đến quán sửa chữa điện thoại của anh Nguyễn Trường G bán cho anh G lấy số tiền 2.000.000 đồng. Tài sản là chiếc điện thoại Iphone 11 Pro Max Cương lừa đảo, chiếm đoạt đã được thu hồi và trả lại cho anh S.

Hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS.

Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ, hành vi: Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự và làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý, vì vậy cần phải được xử lý bằng pháp luật hình sự.

[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội chứng tỏ bị cáo có ý thức coi thường pháp luật.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Tự nguyện khác phục hậu quả”, “ phạm tội gây thiệt hại không lớn”, “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại điểm b, h, s khoản 1 Điều 51, bị cáo tự giác ra đầu thú nên được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm“ theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt: Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò, cũng như nhân thân của bị cáo thì thấy rằng cần có có mức án nghiêm khắc để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo tính chất ngăn ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên, bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, h, s khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS nên Hội đồng xét xử giảm một phần hình phạt cho bị cáo. Xét thấy mức hình phạt từ 24 đến 30 tháng tù mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đề nghị khi luận tội đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc với hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công việc và thu nhập không ổn định, không có tài sản gì để đảm bảo thi hành án, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Vật chứng của vụ án:

Đối với vật chứng là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11 Pro Max, 64G cùng 01 chiếc ốp điện thoại đã được trả lại cho bị hại quản lý và sử dụng. Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Đối với vật chứng là 01 áo khoác màu đen xám có khóa phía trước, cổ áo gắn mác ký hiệu C3; 01 áo Polo màu đen phía trước ngực bên trái có thêu chữ GG màu đỏ trắng, cổ áo gắn mác ký hiệu Focus Price; 01 quân vải dài màu đen; 01 khẩu trang bằng vải màu trắng tình trạng đã qua sử dụng là những vật liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

  • - Anh Đinh Quang S đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác. Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Đối với số tiền 2.000.000đ, anh Nguyễn Trường G đã nhận lại được và không có yêu cầu gì khác. Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[9] Về các vấn đề khác:

Trong vụ án này, đối với việc anh Nguyễn Trường G đã mua điện thoại do C chiếm đoạt của anh S, anh Lê Văn H đã cầm số tiền 2.000.000 đồng C bán điện

thoại đưa cho để trả cho anh G, chị Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị N đi cùng C đến quán của anh G trả tiền, nhận thấy anh G không biết tài sản do C trộm cắp mà có, đã được nhận lại tiền và không yêu cầu đề nghị gì, anh H, chị H1, bà N là những người đã cùng C khắc phục hậu quả, không có ý định che giấu, không tố giác tội phạm nên không xem xét xử lý là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự
  2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành C phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"

  3. Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS.
  4. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành C 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/5/2023.

    Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

    Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  5. Về trách nhiệm dân sự: Anh Đinh Quang S đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác. Hội đồng xét xử không xem xét.
  6. [6] Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  7. Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác màu đen xám có khóa phía trước, cổ áo gắn mác ký hiệu C3; 01 áo Polo màu đen phía trước ngực bên trái có thêu chữ GG màu đỏ trắng, cổ áo gắn mác ký hiệu Focus Price; 01 quần vải dài màu đen; 01 khẩu trang bằng vải màu trắng tình trạng đã qua sử dụng được niêm phong trong hộp catton ký hiệu CUONG 2003.

    (Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01 /8 /2023 giữa C4 B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện phú B).

  8. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thành C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Báo cho bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh TN;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2023/HS-ST ngày 24/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 97/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành Cương phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger