TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG Bản án số: 97/2024/HS-ST Ngày: 24/6/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Xuân Huy
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lã Văn Luật
2. Bà Vũ Kim Hoa
Thư ký phiên tòa: Bà Mã Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cao Bằng.
Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số: 78/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2024/QĐXXST-HS ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:
Họ và tên: Nông Hữu H; Tên gọi khác: không; Giới tính: nam; Sinh ngày: 04 tháng 08 năm 1994 tại: thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: tổ D, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12 phổ thông; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Nông Văn C (sinh năm 1967); Con bà: Luân Thị T (sinh: 1972) đều trú tại: tổ D, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con cả trong gia đình; Vợ, con: chưa có; Tiền án: không, tiền sự: không;
Nhân thân:
- Ngày 15/03/2013, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản;
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C kể từ ngày 20/02/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- Lương Thanh N; sinh năm: 1984 (Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Trần Thị B; sinh năm 1952 (Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Nguyễn Thị H1; sinh năm 1962 (Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Trú tại: Xóm A, xã C, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
Trú tại: Tổ B, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
Trú tại: Tổ E, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
- Người làm chứng:
- Nông Thị N1 (Vắng mặt tại phiên tòa).
- Luân Thị T (Vắng mặt tại phiên tòa).
- Triệu Thị M (Vắng mặt tại phiên tòa).
Trú tại: Tổ F, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
Trú tại: Tổ D, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
Trú tại: Xóm A, xã C, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 22h ngày 14/02/2024 Nông Hữu H đi bộ từ trung tâm thành phố C đi về hướng xã C, thành phố C, tỉnh Cao Bằng với mục đích là khi thấy những chiếc xe để bên đường không có ai trông coi thì H sẽ lấy trộm để sử dụng. Khoảng 1h sáng khi đi bộ đến khu vực thuộc Xóm A, xã C, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, bị cáo thấy chiếc xe ô tô biển kiểm soát 11A - 049.13 đỗ ở lề đường bên phải đường quốc lộ 34B theo hướng từ thành phố C đi huyện T. Bị cáo thử mở cửa phía sau bên lái thì mở được cửa xe ra luôn, sau đó bị cáo đi vào hàng ghế sau xe và thấy một chiếc ví da màu nâu để trong hộc chứa đồ phía trước ghế bên phụ. Bị cáo lấy chiếc ví da màu nâu đó, xuống xe và đi về hướng huyện T, đi được khoảng 100m thì bị cáo mở ví ra kiểm tra thì thấy một số giấy tờ và số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) tiền mặt gồm 20 (hai mươi) tờ tiền ngân hàng N2 mệnh giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng). Bị cáo lấy số tiền mặt đút vào túi áo bên trái áo khoác đang mặc và vẫn cầm chiếc ví theo người. Khi đi được khoảng 4km nữa thì H thấy có xe máy đi phía sau, lo sợ có người đuổi theo để lấy lại ví và bị cáo không có nhu cầu sử dụng các giấy tờ trong ví nên bị cáo đã giấu chiếc ví vào lỗ thứ 3 trên thân cột điện. Đi được khoảng 02km nữa thì H quay lại đi về hướng thành phố C.
Khoảng 3h sáng ngày 15/02/2024, anh Lương Thanh N là chủ xe 11A-049.13 khi đang ngủ trong nhà thì nghe thấy tiếng chó sủa, anh N dậy mở cửa ra ngoài xem thì thấy chiếc xe ô tô của mình đang đỗ trước cửa nhà bị sáng đèn trần, kiểm tra xe thì anh N thấy cửa sau bên phải chiếc xe đang bị mở, kiểm tra trong xe thì phát hiện chiếc ví da để trong hộp đựng đồ phía trước ghế phụ đã bị mất. anh N đóng cửa xe và gọi điện thoại thông báo cho công an xã C, thành phố C để trình báo sự việc. Tiếp đó anh N gọi điện thoại cho em họ là Lương Văn T1 để kiểm tra camera vì nhà T1 gần nhà N và có lắp camera hướng về vị trí anh N đỗ xe. Khi kiểm tra thì phát hiện khoảng 1h sáng có một người đàn ông đội mũ len màu nâu đen, đi giầy thể thao màu trắng, mặc quần áo màu đen bước đến vị trí xe ô tô biển kiểm soát 11A -049.13 đỗ, một lúc sau người này bước ra khỏi xe và đi bộ về hướng huyện T. Xem camera xong anh N đi vào nhà nằm nghỉ. Đến khoảng 3h50 phút cùng ngày bị cáo Nông Hữu H quay lại đến gần vị trí chiếc xe biển kiểm soát 11A -049.13 đỗ, cùng lúc này anh N nghe thấy tiếng chó sủa nên ra ngoài kiểm tra thì bắt gặp bị cáo. Thấy bị cáo Nông Hữu H giống người anh N đã nhìn thấy trên camera nên anh N đã giữ lại đồng thời trình báo sự việc đến công an xã C, một lúc sau công an xã C đã đến hiện trường kiểm tra, xác minh và đưa bị cáo về trụ sở để làm việc. Công an xã C đã tạm giữ với Nông Hữu H số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) bị cáo khai là tiền bị cáo đã lất trong chiếc ví trên xe ô tô biển kiểm soát 11A -049.13, 01 chiếc điện thoại di động, số tiền 785.000 đồng (bẩy trăm tám mươi năm nghìn đồng) là tiền cá nhân của bị cáo, trang phục bị cáo mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp, 01 chiếc ví da bên trong có các giấy tờ của anh N do bị cáo đã lấy trộm.
Vụ thứ hai: Khoảng 9h sáng ngày 18/02/2024 bị cáo Nông Hữu H từ khu vực sân vận động thành phố C đi bộ về hướng khu vực đường đôi phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Khi đi đến khu vực gần phòng C1 công an tỉnh C thuộc tổ E, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Bị cáo nhìn thấy một chiếc xe đạp màu xanh lá cây của bà Nguyễn Thị H1 (sinh năm 1962, địa chỉ: Tổ E, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) để ở trước cửa một cửa hàng vật liệu xây dựng. Khi nhìn xung quanh không có ai, bị cáo đã lấy trộm chiếc xe đạp trên và điều khi xe về hướng ngã tư N, sau đó đi về hướng trung tâm thành phố, rẽ qua cầu G đi qua phường N, khi đi qua cầu G được khoảng 100m thì xe đạp bị tuột xích nên bị cáo đã mang xe đạp vào trong ngõ trước tường rào nhà bà Nông Thị N1 (sinh năm 1963) thuộc khu vực tổ F, phường N, thành phố C để xe đạp ở đó và đi bộ về nhà. Khoảng 14h chiều cùng ngày bà Nông Thị N1 thấy chiếc xe trước tường rào của nhà mình nhưng không có ai đến nhận nên bà N1 đã dắt xe vào để trong sân nhà. Đến ngày 20/02/2024 bà N1 đã trình báo sự việc và giao nộp chiếc xe đạp trên cho công an phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
Vụ thứ ba: Khoảng 15h ngày 19/02/2024, sau khi chơi điện tử xong thì Nông Hữu H đi bộ lang thang ở khu vực trung tâm thành phố C. Khi đi qua đoạn đường từ ngã tư chùa P về phía dốc Đài truyền hình tỉnh Cao Bằng thuộc Tổ A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng bị cáo thấy 01 chiếc xe đạp điện của bà Trần Thị B (sinh năm 1953, địa chỉ: Tổ B, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) đang để ở trên vỉa hè và chìa khóa vẫn đang treo ở đầu xe nên bị cáo đã nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe đạp điện đó về để sử dụng. Bị cáo đã lấy chìa khóa đang treo ở đầu xe để mở ổ khóa xe và điều khiển xe đi về nhà của bị cáo tại tổ D, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Khoảng 16h45 phút ngày 19/02/2024 bà B phát hiện chiếc xe bị mất nên đã đến Công an thành phố C trình báo sự việc. Cùng ngày, cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố C đã tạm giữ chiếc xe đạp điện trên cùng chìa khóa xe và chiếc mũ lưỡi trai bị cáo đội khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại nhà của bị cáo.
Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ các vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội như sau:
- Thu giữ vật chứng trong vụ án sảy ra ngày 15/02/2024 tại xóm A, xã C, thành phố C, tỉnh Cao Bằng gồm:
Tiền mặt 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), gồm 20 (hai mươi) tờ tiền ngân hàng N2 mệnh giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) có số seri lần lượt là: UQ20847526; UQ20847527; UQ20847528; UQ20847617; UQ20847628; UQ20847629; UQ20847630; UQ20847631; UQ20847632; UQ20847633; UQ20847634; UQ20847635; UQ20847636; UQ20847637; UQ20847638; UQ20847640; UQ20847652; UQ20847653; UQ20847654; UQ20847655.
01 (một) chiếc ví da màu nâu
01 (một) giấy phép lái xe số AA mang tên Lương Thanh N
01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô số DK23/0124064 mang tên Lương Thanh N
01 (một) giấy chứng nhận kiểm định phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số DA5268238 của xe ô tô biển kiểm soát: 11A -049.13.
01 (một) sổ tiết kiệm số AA 00005900265 mở tại ngân hàng A mang tên Lương Thanh N.
Tiền mặt 785.000 đồng (bẩy trăm tám mươi năm nghìn đồng)
01 (một) chiếc điện thoại đã qua sử dụng, màu đỏ đen, nhãn hiệu HUAWEI có số IMEI1: 867615045321582, số IMEI 2: 867615045361596.
01 (một) chiếc mũ len màu nâu, có vành bằng lông màu xám.
01 (một) chiếc áo khoác nỉ màu đen có gắn mũ, bên trong có lót lông màu trắng.
01 (một) chiếc quần nỉ màu đen, trên đùi trái phía trước có in họa tiết màu trắng.
01 (một) đôi giầy thể thao màu trắng, bên trên có bám dính bùn đất.
- Thu giữ vật chứng trong vụ án sảy ra ngày 18/02/2024 tại tổ E, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng gồm:
01 (một) xe đạp màu xanh lá cây, đã qua sử dụng, trên khung xe có chữ Paloma xe có giỏ phía trước đầu xe, xe đã qua sử dụng.
- Thu giữ vật chứng trong vụ án sảy ra ngày 19/02/2024 tại tổ A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng gồm:
01 (một) xe đạp điện, thân xe mày xanh nước biển có ghi chữ Y, xe có 02 (hai) bàn đạp, giỏ xe màu trắng, xe đã qua sử dụng.
01 (một) chìa khóa có tổng chiều dài 7,5cm, có phần tay cầm bằng nhựa màu đen được treo vào sợi dây vải màu xanh lá cây, đã qua sử dụng.
01 (một) chiếc mũ, loại mũ lưỡi chai bằng vải màu trắng, vàng, đỏ, đen xám.
Ngày 20/02/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố C có yêu cầu định giá tài sản số 266/YC-ĐCSHS để xác định giá trị chiếc xe đạp điện bị cáo Nông Hữu H đã lấy trộm tại Tổ A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Tại bản kết luận định giá tài sản số: 10/KL-HĐĐGTS ngày 22/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận giá trị chiếc xe đạp điện là 533.333 đồng (Năm trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).
Ngày 07/03/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố C có yêu cầu định giá tài sản số 388/YC-CQCSĐT(ĐTTH) để xác định giá trị chiếc xe đạp bị cáo Nông Hữu H đã lấy trộm tại Tổ E, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Tại bản kết luận định giá tài sản số: 15/KL-HĐĐGTS ngày 15/03/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C kết luận giá trị chiếc xe đạp điện là 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng).
Ngày 12/03/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố C có quyết định trưng cầu giám định số 327/GĐN-CQCSĐT(ĐTTH) Trưng cầu phòng kỹ thật hình sự Công an tỉnh C giám định 07 (bẩy) đoạn Video ghi lại quá trình di chuyển và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo Nông Hữu H. Tại bản kết luận giám định số 222/KL-KTHS ngày 02/04/2024 của phòng K Công an tỉnh C kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trên 07 (bẩy) đoạn Video gửi giám định.
Ngày 20/3/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố C có đề nghị số 237/GĐN-CQCSĐT(ĐTTH) đề nghị ngân hàng N2 – chi nhánh tỉnh C giám định số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) gồm 20 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng Nông Hữu H lấy trộm trên xe ô tô biển kiểm soát 11A – 049.13. Tại bản kết luận giám định số 219/KL-CAB ngày 21/03/2024 của ngân hàng N2 – chi nhánh tỉnh C kết luận: Số tiền trên là do Ngân hàng N2 phát hành.
Xét thấy việc trả lại đồ vật, tài sản đã tạm giữ không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng:
Trả lại 01 (một) xe đạp điện, thân xe mày xanh nước biển có ghi chữ Y, xe có 02 (hai) bàn đạp, giỏ xe màu trắng, xe đã qua sử dụng.; 01 (một) chìa khóa có tổng chiều dài 7,5cm, có phần tay cầm bằng nhựa màu đen được treo vào sợi dây vải màu xanh lá cây, đã qua sử dụng cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Trần Thị B.
Trả lại Tiền mặt 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), gồm 20 (hai mươi) tờ tiền ngân hàng N2 mệnh giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) có số seri lần lượt là: UQ20847526; UQ20847527; UQ20847528; UQ20847617; UQ20847628; UQ20847629; UQ20847630; UQ20847631; UQ20847632; UQ20847633; UQ20847634; UQ20847635; UQ20847636; UQ20847637; UQ20847638; UQ20847640; UQ20847652; UQ20847653; UQ20847654; UQ20847655.
01 (một) chiếc ví da màu nâu
01 (một) giấy phép lái xe số AA mang tên Lương Thanh N
01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô số DK23/0124064 mang tên Lương Thanh N
01 (một) giấy chứng nhận kiểm định phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số DA5268238 của xe ô tô biển kiểm soát: 11A -049.13.
01 (một) sổ tiết kiệm số AA 00005900265 mở tại ngân hàng A mang tên Lương Thanh N.
cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Lương Thanh N.
Trả lại 01 (một) xe đạp màu xanh lá cây, đã qua sử dụng, trên khung xe có chữ Paloma xe có giỏ phía trước đầu xe, xe đã qua sử dụng cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Nguyễn Thị H1.
Hành vi của Nông Hữu H đã bị cơ quan công an lập hồ sơ, đề nghị truy cứu tránh nhiệm hình sự về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 - Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại bản Cáo trạng số: 87/CT-VKSTP ngày 16/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Nông Hữu H về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa bị cáo Nông Hữu H thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại. Bị cáo khai nhận: do cần tiền phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân và trộm cắp xe nhằm phục vụ việc đi lại của bản thân nên từ ngày 15/02/2024 đến ngày 19/02/2024 bị cáo đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là: 2.633.333 đồng (Hai triệu sáu trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng). Bị cáo nhất trí với các kết luận giám định mà cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định và không có ý kiến gì khác.
Bị hại ông Lương Thanh N vắng mặt tại phiên tòa, đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại đơn xin xét xử vắng mặt ông Lương Thanh N xác nhận đã được nhận lại toàn bộ tài sản. Ông Lương Thanh N không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử xét xử bị cáo theo quy định pháp luật.
Bị hại bà Nguyễn Thị H1 vắng mặt tại phiên tòa, đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Trong đơn xin xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị H1 xác nhận đã được nhận lại toàn bộ tài sản. Bà Nguyễn Thị H1 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại bà Trần Thị B vắng mặt tại phiên tòa, đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Trong đơn xin xét xử vắng mặt bà Trần Thị B xác nhận đã được nhận lại toàn bộ tài sản. Bà Trần Thị B không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên bố bị cáo Nông Hữu H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo Nông Hữu H từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: Đối với số tiền 785.000 đồng xét thấy đây là tài sản của cá nhân bị cáo do vậy đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án, đối với chiếc điện thoại và chiếc mũ len, áo khoác nỉ, quần nỉ, đôi giầy thể thao và chiếc mũ lưỡi trai xét thấy đây là tài sản của bị cáo và bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo do vậy đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo số tài sản trên.
Về hình phạt bổ sung: không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra việc xem xét giải quyết do các bị hại không có yêu cầu.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; buộc bị cáo Nông Hữu H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội và điều khoản xét xử: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Do cần tiền chi tiêu cá nhân và phương tiện đi lại nên từ ngày 15/02/2024 đến ngày 19/02/2024 Nông Hữu H đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố C tài sản trộm cắp gồm 2.000.000 đồng tiền mặt, 01 xe đạp, 01 xe đạp điện.Tổng giá trị tài sản bị bị cáo trộm cắp là 2.633.333 đồng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi này không những làm ảnh hưởng tới tình hình trật tự trị an trên địa bàn thành phố C mà còn gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong việc quản lý, bảo vệ tài sản của người dân. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành Tội trộm cắp tài sản. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo là người có nhân thân xấu: Ngày 15/03/2013, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trong đơn xin xét xử vắng mặt, các bị hại Nguyễn Thị H1 và Trần Thị B đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do vậy bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại xác nhận đã được trả lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân của bị cáo; tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, ý thức chấp hành pháp luật; Hội đồng xét xử xét thấy mức đề nghị hình phạt tù có thời hạn của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo hoàn toàn phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của cáo nên cần được chấp nhận. Xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập thấp dưới mức lương tối thiểu. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 785.000 đồng (bẩy trăm tám mươi năm nghìn đồng) tiền Việt Nam, trong quá trình điều tra xác định được đây là số tiền của bị cáo Nông Hữu H, không liên quan đến hành vi phạm tội do vậy cần hoàn trả lại cho bị cáo nhưng cần giữ lại để đảm bảo thi hành án.
Đối với (một) chiếc điện thoại di động màu đỏ đen, có chữ HUAWEI có số IMEI 1: 867615045321582, số IMEI 2: 867615045361596, trong quá trình điều tra xác định được đây là tài sản của bị cáo, bị cáo không sử dụng để thực hiện các hành vi liên quan đến hành vi phạm tội do vậy cần hoàn trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 (một) chiếc mũ len màu nâu, có vành bằng lông màu xám; 01 (một) chiếc áo khoác nỉ màu đen có gắn mũ, bên trong có lót lông màu trắng; 01 (một) chiếc quần nỉ màu đen, bên đùi trái phía trước có in họa tiết màu trắng; 01 (một) đồi giày thể thao màu trắng; 01 (một) chiếc mũ lưỡi trai bằng vải màu trắng, vàng, đỏ đen xám thu giữ của bị cáo, tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo xét thấy đây là tài sản của bị cáo do vậy cần hoàn trả lại cho bị cáo.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.
[09] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Nông Hữu H phạm tội "Trộm cắp tài sản”
Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Nông Hữu H 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 20/02/2024.
- Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử
Hoàn trả lại cho bị cáo Nông Hữu H số tiền 785.000 đồng tiền Việt Nam nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Hoàn trả lại cho bị cáo Nông Hữu H 01 (một) chiếc điện thoại di động màu đỏ đen, có chữ HUAWEI có số IMEI 1: 867615045321582, số IMEI 2: 867615045361596, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
Hoàn trả lại cho bị cáo Nông Hữu H 01 (một) chiếc mũ len màu nâu, có vành bằng lông màu xám; 01 (một) chiếc áo khoác nỉ màu đen có gắn mũ, bên trong có lót lông màu trắng; 01 (một) chiếc quần nỉ màu đen, bên đùi trái phía trước có in họa tiết màu trắng; 01 (một) đôi giầy thể thao màu trắng; 01 (một) chiếc mũ lưỡi trai bằng vải màu trắng, vàng, đỏ đen xám thu giữ của bị cáo.
Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 123 ngày 17/6/2024
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Bị cáo Nông Hữu H phải chịu 200.000,đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị hại (Lương Thanh N, Trần Thị B, Nguyễn Thị H1) vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận: -Tòa án tỉnh Cao Bằng; - Công an tỉnh Cao Băng; - Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng; - Sở tư pháp; - Viện kiểm sát TP Cao Bằng; - Công an TP Cao Bằng; - Thi hành án DS TP Cao Bằng; - Bị cáo; NCQLNVLQ - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lý Xuân Huy |
Bản án số 97/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 97/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nông Hữu Hòa trộm cắp tài sản nhiều lần
