Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SÓC SƠN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 97/2024/HS - ST

Ngày 24-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thịnh Quang Thắng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng

Bà Nguyễn Văn Vĩ

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Trương Minh Hiếu - Kiểm sát viên

Ngày 24/5/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 75/2024/TLST - HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Bùi Văn N – sinh năm: 1973 - Giới tính: Nam; Nơi sinh: thôn T, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: thôn T, xã M, huyện S, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12 - Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; H và tên cha: Bùi Văn N1 - sinh năm: 1946 (Còn sống); Họ và tên mẹ: Dương Thị H1 - sinh năm: 1946 (Còn sống); Vợ: Nghiêm Thị M - sinh năm: 1975; Con: Có 02 con, lớn - sinh năm: 1995, nhỏ - sinh năm: 1998; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt tại phiên tòa.

2. Người bị hại: Anh Phạm Mạnh C - sinh năm: 1979, trú tại thôn A, xã Đ, huyện T, Hà Nội; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 1985, gia đình ông Dương Văn M1 - sinh năm: 1957, trú quán tại thôn T, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội, được UBND xã M giao cho thửa đất số 52, tờ bản đồ số 15, diện tích 1080m² tại thôn T, xã M, huyện S, để quản lý

và sử dụng. Đến năm 2004, ông Dương Đoàn T - sinh năm: 1955, là người ở cùng thôn T đã giới thiệu cho ông M1 chuyển nhượng 600m² đất cho bà Đoàn Thị L - sinh năm: 1950, trú tại số A, tổ E, Lương Sử C1, V, quận Đ, thành phố Hà Nội. Ngày 20/5/2004, bà L được UBND huyện S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S359348, số vào số 01082 có số thửa là 52b, tờ bản đồ số 15 thuộc thôn T, xã M, huyện S. Do không còn nhu cầu sử dụng nên ngày 25/3/2011, bà L đã làm thủ tục chuyển nhượng lại 600m² đất trên cho ông Dương Quảng B - sinh năm: 1961, trú tại số A H, phường P, quận H, Hà Nội, ngày 01/4/2011, ông B được UBND huyện S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích đất trên. Ngày 10/12/2011, UBND xã M có Công văn số 477/CV - UBND về việc xác minh nguồn gốc, quá trình sử dụng đối với thửa đất của ông B xác định: Thửa đất số 52b, tờ bản đồ số 15, diện tích 600m² đã ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S359348 mang tên hộ Đoàn Thị L đã chuyển nhượng cho ông Dương Quảng B và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BDD493274 cấp ngày 01/4/2011 số vào số CH00507. Đối chiếu tại thực địa và đồ giải lên tờ bản đồ số 15 tỷ lệ 1/1000 đo đạc năm 1993 thôn T, xã M thì không có số thửa 52b diện tích 600m² như đã ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ Đoàn Thị L đã chuyển nhượng cho ông Dương Quảng B.

Về nguồn gốc đất là đất của hộ ông Dương Văn M1 được UBND xã M giao đất trồng vườn rừng từ năm 1985, hiện trạng sử dụng đất đã xây tường bao ranh giới, mốc giới rõ ràng, hiện không có nhà ở, sử dụng ổn định không có tranh chấp, lấn chiếm. Năm 2004 đã chuyển nhượng cho bà Đoàn Thị L diện tích 600m², quá trình sử dụng đã được UBND huyện S cấp GCNQSDĐ số S359348 số vào số 01082 cấp ngày 20/5/2004 mang tên hộ Đoàn Thị L. Ngày 25/3/2011 đã chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất trên cho ông D Quảng Bình việc sử dụng đất của hộ gia đình không có tranh chấp, lấn chiếm.

Về hình thể và diện tích ghi trong GCNQSDĐ không đúng với thực tế sử dụng. Việc trích lục và ghi số thửa 52b diện tích 600m² trên GCNQSDĐ của hộ Đoàn Thị L đã chuyển nhượng cho ông D Quảng Bình là mượn thửa từ thửa số 52 hiện gia đình ông Dương Văn M2 đang sử dụng. Hiện tại vị trí của thửa đất của ông Dương Quảng B đang sử dụng là nhận chuyển nhượng từ hộ Đoàn Thị L đã được bóc tách khỏi quy hoạch đất rừng năm 2008.

Về hiện trạng thửa đất, đã được trích đo một phần từ thửa đất số 81 tờ bản đồ số 15 tỷ lệ 1/1000 thôn T, xã M. Do vậy theo hồ sơ lưu trữ của UBND xã thì thửa đất số 52b tờ bản đồ số 15 diện tích 600m² theo GCNQSDĐ số BĐ 493274 đối chiếu đồi dải trên dản đồ và thực địa là thửa đất số 81b được trích đo từ thửa đất số 81 tờ bản đồ số 15 tỷ lệ 1/1000 thôn T, xã M.

Ngày 27/5/2011, ông Dương Quảng B lại làm thủ tục chuyển nhượng lại thửa đất trên cho ông Nguyễn Trọng T1 - sinh năm: 1950, trú tại thôn Y, xã K, huyện H, Hà Nội. Ngày 30/12/2011, UBND huyện S đã cấp giấy chứng nhận quyển sử dụng đất. Sau đó, ông T1 đã làm thủ tục tặng thửa đất trên cho bà Trọng Thị T2 - sinh năm: 1965, trú tại tổ C xóm Đ, phường M, quận C, Hà Nội, rồi bà T2 lại chuyển nhượng toàn bộ thửa đất trên cho anh Phạm Mạnh C - sinh

năm: 1979, trú tại thôn A, xã Đ, huyện T. Sau khi nhận chuyển nhượng thửa đất của chị T2, anh C đã trồng một số cây ăn quả trên thửa đất gồm một số cây sấu, ổi. Đến tháng 9/2023, anh C nhận được thông tin việc Bùi Văn N - sinh năm 1973, trú tại thôn T, xã M, huyện S, Hà Nội, đến tranh chấp thửa đất trên. N đã cung cấp cho anh C 01 hợp đồng chuyển nhượng thửa đất trên lập ngày 18/5/2015 giữa Bùi Văn N và bà Phạm Thị L1 - sinh năm: 1956, trú tại số A, phố Đ, Hà Nội. (bản photo). Sau đó, N thuê anh Dương Văn S - sinh năm: 1973, ở cùng thôn đến đặt ống thoát nước trước mặt thửa đất và san gạt thửa đất và thuê anh Bùi Văn T3 - sinh năm: 1979, ở cùng thôn làm 02 cánh cổng sắt đặt trước thửa đất; thuê anh Nguyễn Văn T4 - sinh năm: 1976, ở cùng thôn cắt bỏ, chặt phá 05 cây sấu, 01 cây ổi. Vì vậy, anh C đã có đơn trình báo công an đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật. Ngoài ra, anh C 02 cánh cổng gỗ bị mất được thay bằng 02 cánh cổng sắt nên đã có đơn trình báo công an đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 420/KL-HĐ ngày 13/12/2023 của HÐÐGTS UBND huyện S kết luận: 05 cây sấu và 01 cây ổi bị chặt phá có tổng giá trị là: 2.289.000đ.

Đối với 02 cánh cổng gỗ xác định: Tài sản không thu hồi được, không biết thời điểm, giá trị 02 cánh cổng khi làm mới, không rõ kết cấu cổng, đặc điểm chiều dài, chiều dày các tấm gỗ.... Vì vậy không đủ điều kiện để định giá tài sản trên.

Quá trình điều tra, bị can N không cung cấp được bản hợp đồng chính chuyển nhượng thửa đất trên giữa bà L1N. Xác minh tại Công an phường Đ, quận B, Hà Nội kết quả: Bà Phạm Thị L1 đã chết năm 2017. Đồng thời căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án xác định: Thửa đất số 81b, tờ bản đồ số 15, diện tích 600m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG383475 do UBND huyện S cấp ngày 30/12/2011, số vào sổ CH00843 là của anh Phạm Mạnh C.

Tại cơ quan CSĐT - Công an huyện S, bị can Bùi Văn N đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên; bản thân bị can phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

* Vật chứng thu giữ: Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 USB màu đen nhãn hiệu CruzerGlide 30, dung lượng 16Gb (kèm theo vụ án).

* Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, người bị hại không có yêu cầu đề nghị buộc bị can Bùi Văn N phải bồi thường về trách nhiệm dân sự.

Tại bản cáo trạng số 69/CT -VKSÐA ngày 19/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đề nghị truy tố Bùi Văn N về tội: “Huỷ hoại tài sản” theo Khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng:

* Khoản 1 Điều 178; Điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bùi Văn N từ 6 tháng đến 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 12 tháng đến 18 tháng.

- Không áp dụng bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Không có

* Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo đều ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an huyện S; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng, đủ quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xuất phát từ việc tranh chấp quyền sử dụng đất. Khoảng đầu tháng 10/2023, tại thôn T, xã M, huyện S, thành phố Hà Nội, Bùi Văn N đã có hành vi hủy hoại tài sản, đã trực tiếp thuê anh Nguyễn Văn T4 cắt bỏ và chặt phá 05 cây sấu, 01 cây ổi của anh Phạm Mạnh C được trồng trên thửa đất số 81b, diện tích 600m². Tài sản bị thiệt hại được xác định có giá trị là: 2.289.000 đồng.

Do đó, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để kết luận: bị cáo Bùi Văn N đã phạm tội “Huỷ hoại tài sản” theo Khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015 như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đã truy tố bị cáo là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

Cụ thể Điều 178 - BLHS quy định:

“1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng [...], thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

.....;

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

3.1. Về tình tiết tăng nặng: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ xác định: Bị cáo Bùi Văn N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

3.2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Bùi Văn N phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối

cải, bị cáo có ông nội có công với cách mạng được tặng thưởng huân chương kháng chiến nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ thuộc điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; căn cứ nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Bùi Văn N: nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản bị huỷ hoại có giá trị không lớn và bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Bùi Văn N không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng vụ án: Không có

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo Bùi Văn N đã phạm tội “Huỷ hoại tài sản”.

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

- Điều 136; Điều 331; Điều 333;Điều 336; Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Xử Phạt: Bùi Văn N 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện S, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù cho bản án đã được hưởng án treo.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dùng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về vật chứng: Không có nên không đặt ra để xử lý.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

5. Án xử công khai sơ thẩm; Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhân:

  • - VKSND huyện Sóc Sơn;
  • - VKSND TP. Hà Nội;
  • - Cơ quan THA huyện Sóc Sơn;
  • - Công an huyện Sóc Sơn.
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Thịnh Quang Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2024/HS - ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về huỷ hoại tài sản

  • Số bản án: 97/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Huỷ hoại tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xuất phát từ việc tranh chấp quyền sử dụng đất. Khoảng đầu tháng 10/2023, tại thôn T, xã M, huyện S thành phố Hà Nội, Bùi Văn N đã có hành vi hủy hoại tài sản, đã trực tiếp thuê anh Nguyễn Văn T cắt bỏ và chặt phá 05 cây sấu, 01 cây ổi của anh Phạm Mạnh C được trồng trên thửa đất số 81b, diện tích 600m2. Tài sản bị thiệt hại được xác định có giá trị là: 2.289.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger