|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 97/2024/HNGĐ-ST Ngày : 24-4-2024 “Về việc tranh chấp đòi lại tài sản" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yến Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trương Thị Thu Thủy;
- Bà Trịnh Thị Kiều Hoa.
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Bích Hợp – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Kim Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 222/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 11 năm 2023 về việc “Đòi lại tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 159/2024/QĐST-DS ngày 21 tháng 3 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 559/TB-TA ngày 09 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T năm 1993. Địa chỉ: Số A, tổ G, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang (Vắng mặt)
- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị K C1 Tổ B, ấp B, xã T, huyện C, tỉnh An Giang(vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Đặng Thị N T1sinh năm 2004. Địa chỉ: Tổ B, ấp B, xã T, huyện C, tỉnh An Giang(vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn C năm 1970. (Có mặt)
- Bà Võ Thị N1 năm 1970. (Có mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C năm 1965. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Số A, tổ G, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn ông Nguyễn Văn T1, đại diện theo ủy quyền của ông T trình bày như sau:
Vào ngày 13/5/2022, bà Huỳnh Thị K C1là mẹ vợ ông Nguyễn Văn T1 hỏi mượn số vàng của ông bao gồm: Một sợi dây chuyền 10 chỉ vàng 24kara, một miếng lắc tay 5 chỉ vàng 24kara và một miếng lắc 4 chỉ vàng 24kara. Sáng ngày 24/5/2022, vợ chồng ông lên Bình Dương thì đưa số vàng cho bà C1 mượn. Ông T2 làm ở Bình Dương được một thời gian thì thất nghiệp nên vợ chồng ông định về quê mướn đất làm và yêu cầu bà C1đưa lại số vàng mà ông giao cho bà C1giữ, bà C1không trả lại vàng mà còn thách thức nên xảy ra mâu thuẫn. Ông T3 với ba mẹ ông T4 nhà bà C1để nói chuyện, đòi lại số vàng nhưng bà C1vẫn không đồng ý trả lại vàng. Nay ông T5 kiện yêu cầu bà Huỳnh Thị K C1phải trả cho ông T tổng 19 chỉ vàng 24 kara, gồm: 01 dây chuyền 10 chỉ vàng 24 kara, 01 miếng lắc 05 chỉ vàng 24 kara, 01 miếng lắc 04 chỉ vàng 24 kara. Tổng giá trị vàng thành tiền là 104.500.000 đồng. Kèm theo đơn khởi kiện là đoạn ghi âm ghi lại cuộc nói chuyện giữa ông T6 đình ông T7 bà C1về việc đòi lại vàng.
Quá trình chuẩn bị xét xử, bị đơn bà Huỳnh Thị K C1đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng bà C1 vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà C1.
Quá trình chuẩn bị xét xử, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn C2 Võ Thị N2 bày ý kiến: Khi vợ chồng ông tổ chức lễ cưới cho Tcưới vợ cho T(con ông) thì vợ chồng ông có cho hai con trong ngày cưới là 2 cây vàng 24kara (gồm 01 đôi bông tai, 1 dây chuyền, hai lắc tay vàng 24kara, tổng là 02 cây vàng 24kara). Cho vàng trong ngày cưới là cho chung hai vợ chồng T– T1tài sản này là tài sản chung của T– Tuyền. Như vậy, xác định vàng cưới 2 lượng vàng 24kara là của chung T– T1kể từ ngày từ ngày cưới. Nay, T1không còn chung sống với con tôi thì con tôi đòi lại số vàng cưới là 19 chỉ vàng 24kara vì hiện bà C1đang giữ mà không trả lại.
Quá trình chuẩn bị xét xử, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị N T1đã được Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng bà T1vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà T8.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Toà án đã triệu tập hợp lệ và tống đạt các văn bản tố tụng đầy đủ và đúng quy định nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án:
Nguyên đơn ông T9 cầu bà C1trả lại cho ông T10 19 chỉ vàng 24kara do bà C1mượn giữ giùm nhưng không trả lại. Căn cứ vào tài liệu chứng cứ, lời khai của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đều xác định:
Ông C3 bà N3 chức đám cưới cho TT1thì có tặng cho 2 lượng (20 chỉ vàng) vàng 24kara cho vợ chồng TT1Như vậy, kể từ thời điểm tổ chức lễ cưới thì số vàng cưới 20 chỉ vàng 24kara là tài sản chung của Tvà T1Sau đó, bà C4 hỏi mượn ông T11 số vàng cưới là 19 chỉ vàng 24kara, sự việc cho mượn 19 chỉ vàng 24kara do bà C1nói giữ giùm cho vợ chồng TC1Sau khi ông T12 19 chỉ vàng 24kara cho bà C1giữ thì đến nay bà C1không trả lại. Khi đòi lại vàng thì ông T13 âm lại cuộc nói chuyện giữa ông T14 bà C1, bà C1thừa nhận có giữ vàng nhưng không đồng ý trả lại vàng cho ông TĐồng thời, ông T ghi âm lại sự việc trao đổi giữa hai bên gia đình ông T7 gia đình bà C1về việc yêu cầu bà C1trả lại vàng. Ngoài ra, người làm chứng trình bày có biết sự việc bà C1giữ vàng của vợ chồng TT1Từ đó, có đủ cơ sở xác định 19 chỉ vàng 24 kara là tài sản chung của vợ chồng T14 T1mặc dù Tvà T1chưa đăng ký kết hôn, sau đó phát sinh sự kiện bà C1mượn 19 chỉ vàng 24kara (vàng cưới) để cất giữ giùm vợ chồng Tvà T1 đã được Tghi âm lại khi yêu cầu bà C1trả lại vàng cưới cho bà C1mượn, người làm chứng có chứng kiến nghe sự việc giữa gia đình ông T4 gia đình bà C1trao đổi và yêu cầu trả lại vàng mà bà C1đang giữ. Trong quá trình Tòa án tiến hành giải quyết vụ án, bị đơn bà C1nhận được văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không đến Tòa án trình bày ý kiến, không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T15 không cung cấp bất kỳ tài liệu chứng cứ nào liên quan đến vụ án. Do vậy, nguyên đơn ông T9 cầu khởi kiện nhưng bị đơn bà C1hoàn toàn không phản đối thì được xem là tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh.
Như vậy, 19 chỉ vàng 24kara mà T14 T1được tặng cho chung trong ngày cưới đã có đủ căn cứ xác định đây là tài sản chung nhưng chưa chia, do vậy bị đơn bà C1đang giữ giùm 19 chỉ vàng 24 kara thì khi ông T16 yêu cầu trả lại thì bà C1phải có nghĩa vụ trả lại cho ông T14 bà T1Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định pháp luật, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T17 buộc bị đơn bà C1 phải trả lại 19 chỉ vàng 24kara cho nguyên đơn ông T14 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà T1nếu sau này ông T14 bà T1có tranh chấp yêu cầu chia tài sản chung thì khởi kiện bằng một vụ kiện khác theo quy định pháp luật.
Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật. Về án phí: Đề nghị xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về quyền khởi kiện: Nguyên đơn ông T18 rằng 19 chỉ vàng 24kara là tài sản chung của ông T14 bà T1được cha mẹ ông cho vợ chồng ông vào ngày cưới, hiện nay số vàng này do bị đơn bà C1đang giữ. Do vậy, về quyền khởi kiện thì nguyên đơn ông T16 quyền khởi kiện yêu cầu bà C1trả lại 19 chỉ vàng 24 kara theo quy định pháp luật.
Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T14 các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp dân sự là đòi lại tài sản.
Về thẩm quyền: Bị đơn có địa chỉ cư trú trên địa bàn huyện C, tỉnh An Giangnên Tòa án nhân dân huyện Châu Phú có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự: Các đương sự đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ. Tại phiên toà nguyên đơn ông Nguyễn Văn T19 mặt nhưng có người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Văn C5 mặt, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị N4 mặt, bị đơn bà Huỳnh Thị Kim Có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị N T1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung vụ án:
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T20 cầu bị đơn bà Huỳnh Thị K C1phải trả lại cho nguyên đơn ông T21 vàng 19 chỉ vàng 24kara, gồm: 01 dây chuyền 10 chỉ vàng 24 kara, 01 miếng lắc 5 chỉ 24kara, 01 miếng lắc 4 chỉ 24kara. Tổng giá trị vàng tính thành tiền là 104.500.000 đồng.
Quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông T22 cấp tài liệu chứng cứ, Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, lấy lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai người làm chứng đều xác định vào ngày cưới của ông T14 bà T1thì ông Nhà C7 tặng cho ông T14 bà T1tổng là 20 chỉ vàng 24kara nhưng T1đeo nhẫn cưới 01 chỉ vàng 24kara nên còn lại 19 chỉ vàng 24kara.
Do vậy có đủ căn cứ xác định nguồn gốc 19 chỉ vàng 24kara (Tuyền đeo nhẫn cưới 01 chỉ vàng 24kara) là do ông C2 Ntặng cho ông T14 bà T1trong ngày cưới. Kể từ thời điểm tặng cho vàng vào ngày cưới thì đã chuyển quyền sở hữu đối với 19 chỉ vàng 24kara cho ông T23 T1tài sản được tặng cho chung được xác định là tài sản chung của ông T14 bà T1mặc dù ông T14 bà T1chưa đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nguyên đơn ông T18 rằng bà C1mượn và nói cất giữ giùm 19 chỉ vàng 24kara nên ông T24 tưởng và giao cho bà C1giữ. Sau khi cất giữ, ông T16 nhu cầu đòi lại 19 chỉ vàng 24kara thì bà C1không trả. Để chứng minh cho việc bà C1đang giữ 19 chỉ vàng 24kara của vợ chồng ông T25 ông T22 cấp cho Tòa án đoạn ghi âm trao đổi giữa ông T7 bà C1về việc ông T26 vấn đề đòi lại 19 chỉ vàng 24kara mà bà C1đang giữ, đoạn ghi âm cuộc nói chuyện giữa gia đình ông T7 gia đình bà về việc đòi lại tài sản là số vàng 24kara mà bà C1đang giữ. Trong các đoạn ghi âm có thể hiện bà C1đang giữ vàng nhưng không đồng ý trả lại cho ông TĐồng thời, lời khai người làm chứng xác định có nghe sự việc và chứng kiến về việc gia đình ông T20 cầu bà T1trả lại 19 chỉ vàng 24kara (vàng cưới) nếu như Tvà T1không chung sống với nhau. Tòa án tiến hành công khai chứng cứ, hòa giải, đối chất, tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho bị đơn bà C1và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T1nhưng bà C1bà T1đều không có ý kiến phản đối, không cung cấp tài liệu chứng cứ liên quan đến vụ án. Việc bị đơn bà C1người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà T1không phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T17 tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Từ các căn sứ nêu trên, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T17 có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên, tài sản 19 chỉ vàng 24kara được xác định là tài sản chung của ông T14 bà T1mặc dù chỉ có ông T20 cầu bà C1trả lại tài sản, còn bà T1hoàn toàn không có ý kiến trong vụ án này nhưng để đảm bảo quyền lợi của bà T27 đồng xét xử xét thấy đây là tài sản chung chưa chia thì vẫn phải đảm bảo quyền lợi chung cho cả ông T14 bà T1Do đó, Hội đồng xét xử vẫn xem xét buộc bị đơn bà C1phải phải lại tài sản 19 chỉ vàng 24kara cho ông T14 bà T1vì đây là tài sản chung chưa chia. Đồng thời, dành quyền khởi kiện tranh chấp yêu cầu chia tài sản chung cho nguyên đơn ông T14 bà T1bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.
Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà C1phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào
- - Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 2 Điều 86; Khoản 1 và Khoản 4 Điều 91; khoản 2 Điều 92, Khoản 1 Điều 147; Khoản 1 Điều 157; Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271; Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Điều 166, Điều 210, Điều 216, Điều 217 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T20 cầu bà Huỳnh Thị K C1trả 19 chỉ vàng 24kara (vàng thị trường).
- - Buộc bị đơn bà Huỳnh Thị Kim C8 có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn T28 bà Đặng Thị N T1tổng 19 chỉ vàng 24kara (vàng thị trường).
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Huỳnh Thị Kim C8 chịu 6.650.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T29 nhận lại 2.612.500 đồng theo biên lại thu tạm ứng án phí số 0005058 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.
- Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Văn Tông Nguyễn Văn C9 Võ Thị N5 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Huỳnh Thị K C1bà Đặng Thị N T1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Yến Anh |
Bản án số 97/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp đòi lại tài sản
- Số bản án: 97/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: đòi lại tài sản