TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH BÌNH DƯƠNG ————— | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————— |
Bản án số: 97/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23-9-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Lương Thanh Nhàn;
Ông Nguyễn Hữu Cổn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 609/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 138/2024/QĐST – HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Bé N, sinh năm 1991; địa chỉ thường trú: Xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau; địa chỉ tạm trú: Nhà trọ Trần Đình D, khu phố P, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương – Vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Minh P, sinh năm 1982; địa chỉ thường trú: Xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau; địa chỉ tạm trú: Nhà trọ Trần Đình D, khu phố P, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/7/2024, lời khai trong quá trình tham gia tổ tụng nguyên đơn bà Trần Thị Bé N trình bày:
Bà Nhỏ và ông P là vợ chồng chung sống với nhau từ năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân (UBND) xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 23, quyển số 01/2006, cấp ngày 06/3/2006, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 6/2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm, ông P không chăm lo cuộc sống gia đình, mỗi lần xảy ra cãi vã ông P đuổi bà N ra khỏi nhà. Mặt khác trong thời gian sống chung ông P có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác và trên thực tế bà N và ông P hiện không còn sống chung với nhau. Nhận thấy hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà N yêu cầu ly hôn với ông P.
Về con chung: Quá trình sống chung vợ chồng có 03 con chung tên Nguyễn Thị Bé H, sinh ngày 16/6/2007; Nguyễn Ngọc V, sinh ngày 26/6/2010 và Nguyễn Thiên P1, sinh ngày 27/7/2018. Khi ly hôn, bà N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà N không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Những chứng cứ, tài liệu nguyên đơn đã cung cấp: Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy khai sinh, căn cước công dân, hợp đồng lao động, sổ tạm trú.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Minh P: Ông Nguyễn Minh P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập hợp lệ. Tuy nhiên, ông P không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, vắng mặt không có lý do. Ông P không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà N và không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên toà:
- Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi mở phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ về quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Bị đơn không thực hiện đúng và đầy đủ về quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì thêm.
- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Nguyễn Minh P đang sinh sống và đăng ký tạm trú tại nhà trọ Trần Đình D, khu phố P, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương nên theo quy định điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
[2] Về sự có mặt, vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Nguyễn Minh P đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng ông Nguyễn Minh P vắng mặt, việc vắng mặt của ông Nguyễn Minh P không vì lý do bất khả kháng. Nguyên đơn bà Trần Thị Bé N có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung tranh chấp:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Bé N và ông Nguyễn Minh P tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 23, quyển số 01/2006, cấp ngày 06/3/2006. Hôn nhân giữa ông P và bà N là hợp pháp theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về mâu thuẫn vợ chồng: Theo bà N trình bày, quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, ông P không chăm lo cuộc sống gia đình, mỗi lần xảy ra cãi vã ông P đuổi bà N ra khỏi nhà. Thời gian sống chung ông P có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác và trên thực tế bà N và ông P hiện không còn sống chung với nhau. Nay bà N nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin ly hôn với ông P để trả tự do cho nhau.
Mặt khác, sau khi thụ lý vụ án, Toà án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng và triệu tập ông P đến Toà án để hoà giải đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông P không chấp hành theo giấy triệu tập, không có mặt tại Toà án. Qua đó cho thấy ông P không có thiện chí hoà giải đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng, không còn quan tâm đến bà N, hôn nhân giữa bà N và ông P đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do đó nguyên đơn bà Trần Thị Bé N yêu cầu được ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Minh P là có cơ sở chấp nhận.
[3.2] Về con chung: Qúa trình sống chung bà N và ông P có 03 con chung tên Nguyễn Thị Bé H, sinh ngày 16/6/2007; Nguyễn Ngọc V, sinh ngày 26/6/2010 và Nguyễn Thiên P1, sinh ngày 27/7/2018. Khi ly hôn bà N yêu cầu được nuôi dưỡng, chăm sóc con chung.
Xét thấy, trong thời gian cha mẹ không chung sống với nhau, các cháu Nguyễn Thị Bé H, Nguyễn Ngọc V, Nguyễn Thiên P1 được bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Các cháu Nguyễn Thị Bé H, Nguyễn Ngọc V đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng sống cùng với mẹ khi cha mẹ ly hôn. Căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con chung nhận thấy việc giao các cháu Nguyễn Thị Bé H, Nguyễn Ngọc V, Nguyễn Thiên P1 cho bà N nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên có cơ sở chấp nhận.
Ông Nguyễn Minh P được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Bà N và các thành viên trong gia đình không được cản trở ông P trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ này. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà N không yêu cầu cấp dưỡng nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[4] Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố B là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5] Về án phí sơ thẩm: Bà N yêu cầu ly hôn với ông P, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình không có giá ngạch. Theo khoản 1 Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà N phải chịu án phí là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Bé N với bị đơn ông Nguyễn Minh P về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- Về hôn nhân: Bà Trần Thị Bé N được ly hôn với ông Nguyễn Minh P.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 23, quyển số 01/2006, cấp ngày 06/3/2006 do Ủy ban nhân dân xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau cấp cho bà Trần Thị Bé N và ông Nguyễn Minh P còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Giao cho bà Trần Thị Bé N tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Nguyễn Thị Bé H, sinh ngày 16/6/2007; Nguyễn Ngọc V, sinh ngày 26/6/2010 và Nguyễn Thiên P1, sinh ngày 27/7/2018. Ông Nguyễn Minh P không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Ông Nguyễn Minh P được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Bà Trần Thị Bé N và các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Nguyễn Minh P trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ này.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không tranh chấp nên không đặt ra xem xét giải quyết.
2. Về án phí: Bà Trần Thị Bé N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm án phí số 0000536 ngày 01/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thị Hoa |
Bản án số 97/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 97/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
