1
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:97/2024/DS-ST
Ngày: 22-7-2024
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thanh Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Xuân Thủy;
2. Ông Phan Văn Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Khổng Thị Thu, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 138/2023/TLST-DS ngày 26 tháng 3 năm 2024 về việc về “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2024/QĐXX-ST ngày 14 tháng 6 năm 2024; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân C; địa chỉ trụ sở chính: số A, đường H, khu phố A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Quốc T - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng Quản trị; có mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1979 và chị Lê Thị L, sinh năm: 1981; Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân C và tại Tòa người đại diện pháp luật ông Huỳnh Quốc T trình bày: Anh Nguyễn Văn T1 và chị Lê Thị L có ký với Quỹ tín dụng nhân dân C Hợp đồng cho vay số 221209/04/HĐCV ngày 12-5-2022, số tiền vay 550.000.000 đồng, lãi suất 11,67 %/ năm, lãi suất cho vay có thể điều chỉnh khi Ngân hàng N có quyết định thay đổi lãi suất. Mục đích vay sửa chữa nhà. Thời hạn vay 396 ngày kể từ ngày 12-5-2022 đến ngày 12-6-2023.
Từ lúc vay anh T1, chị L chỉ đóng lãi được vài kỳ số tiền 7.110.000 đồng thì ngưng. Tính đến ngày xét xử 22-7-2024, anh T1 chị L còn nợ 744.768.607 đồng. Trong đó, nợ gốc 550.000.000 đồng; nợ lãi: 194.768.607 đồng.
2
Tài sản đảm bảo cho khoản vay nêu trên theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số số 221209/04/HĐTC ngày 12-5-2022 đối với thửa đất số: 423, tờ bản đồ số: 31, diện tích: 1543,4 m², Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 315664, số vào sổ cấp GCN: CS07698 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 01-4-2019 cho anh T1, chị L đứng tên. Đất tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện C tỉnh Tây Ninh.
Do anh T1 và chị L vi phạm nghĩa vụ trả nợ nhiều lần nên Quỹ tín dụng nhân dân Châu T2 yêu cầu anh T2, chị L có trách nhiệm trả cho Q tín dụng tổng số nợ của Hợp đồng cho vay số 221209/04/HĐCV ngày 12-5-2022 tạm tính đến ngày 22-7-2024 là 744.768.607 đồng. Trong đó, nợ gốc 550.000.000 đồng; nợ lãi 194.768.607 đồng. Đồng thời, anh T2, chị L còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phí phát sinh tiếp theo theo hợp đồng cho vay đã ký kết cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Q tín dụng.
Nếu anh T2, chị L không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Quỹ tín dụng yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm đã thế chấp là Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 423, tờ bản đồ số 31, diện tích 1.543,4 m², Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 315664, số vào sổ cấp GCN: CS07698 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 01-4-2019 cho anh T2, chị L đứng tên; địa chỉ thửa đất: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Hợp đồng thế chấp số 221209/04/HĐTC ngày 12-5-2022 để thu hồi toàn bộ khoản nợ vay cho Quỹ tín dụng nhân dân Châu Thành theo quy định của pháp luật.
Bị đơn chị Lê Thị L vắng mặt nhưng tại bản tự khai ngày ngày 16 tháng 4 năm 2024 chị L trình bày:
Chị thừa nhận vợ chồng chị có thế chấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 315664, số vào sổ cấp GCN: CS07698 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 01-4-2019 cho vợ chồng chị đứng tên vay Quỹ tín dụng nhân dân Châu Thành số tiền 550.000.000 đồng. Do làm ăn khó khăn nên Quỹ tín dụng cho đáo hạn hằng năm nhưng tính lãi cao nên chị không ký vay lại nữa, số tiển trên ngày 30-6-2023 các thành viên của Quỹ tín dụng đã trả thay cho chị nên chị chỉ còn nợ cá nhân thành viên của Quỹ tín dụng nhưng không biết cụ thể người nào. Hiện tại chị không còn nợ Quỹ tín dụng nhân dân C nên không đồng ý trả tiền theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bị đơn anh Nguyễn Văn T1: Do anh T1, chị L không thường xuyên ở địa phương vào ban ngày nên không thực hiện tống đạt được. Sau khi thụ lý, Tòa án tiến hành các thủ tục tống đạt, niêm yết hợp lệ nhiều lần cũng như niêm yết tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp nhưng anh T1 không đến để trình bày ý kiến của mình; anh T1, chị L không tham gia phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ cũng như không tham gia phiên hòa giải và xét xử.
Ý kiến của vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Thẩm phán thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền, việc thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng theo quy
3
định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành và thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn đã được triệu tập, niêm yết hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành chưa thấy vấn đề vi phạm tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử theo quy định.
Về nội dung: đề nghị HĐXX áp dụng Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, chấp nhận yêu cầu của Quỹ tín dụng nhân dân C. Buộc anh T1 chị L trả cho Q tín dụng số tiền nợ gốc và lãi theo Hợp đồng cho vay tính đến ngày 22-7-2024 là 744.768.607 đồng và tính lãi tiếp theo cho đến khi trả xong nợ, đồng thời xử lý tài sản thế chấp đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho Quỹ tín dụng. Anh T1, chị L phải chịu án phí, chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn T1 và chị Lê Thị L đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không đến nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét hợp đồng tín dụng giữa Quỹ tín dụng nhân dân C với anh T1, chị L thấy rằng: Ngày 12-5-2022, anh Nguyễn Văn T1 và chị Lê Thị L có ký với Quỹ tín dụng nhân dân C theo hợp đồng Hợp đồng cho vay số 221209/04/HĐCV số tiền 550.000.000 đồng, lãi suất và thời hạn trả nợ theo hợp đồng, hai bên hoàn toàn tự nguyện và tuân thủ đúng các quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức hợp đồng nên căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án công nhận hợp đồng tín dụng giữa Quỹ tín dụng nhân dân C với anh Nguyễn Văn T1 và chị Lê Thị L là hợp pháp.
Số tiền vay, hiện anh T1, chị L còn nợ gốc 550.000.000 đồng, lãi tính đến ngày 22-7-2024 gồm lãi trong hạn 73.026.740 đồng, lãi quá hạn 115.892.568, lãi phạt 10% quá hạn 12.869.299 đồng, tổng cộng 201.878.607 đồng, anh T1 chị L trả 7.110.000 đồng tiền lãi, còn lại là 194.768.607 đồng. Tổng cộng nợ gốc và lãi là 744.768.607 đồng chưa trả.
Chị L cho rằng cá nhân thành viên Quỹ tín dụng đã trả nợ thay cho chị xong nhưng không biết ai và cũng không có chứng cứ chứng minh trả xong nợ. Quỹ tín dụng nhân dân Châu T2 đã nhiều lần gửi giấy mời và lập biên bản làm việc, chị L anh T2 cam kết nhưng vẫn không trả. Do đó, Quỹ tín dụng nhân dân Châu T2 yêu cầu anh T2, chị L có nghĩa vụ trả Quỹ tín dụng số tiền nợ gốc và lãi tổng cộng 744.768.607 đồng là phù hợp.
[3] Xét Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 221209/04/HĐTC ngày 12-5-2022 có đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đ - chi
4
nhánh huyện C nên tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật về hình thức thế chấp. Do đó, hợp đồng này có giá trị pháp lý, giữa hai bên phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với tài sản thế chấp.
Qua xem xét thẩm định ngày 13-6-2024, trên phần đất của anh T2, chị L có 01 căn nhà tường cấp 4 ngang 10m x dài 20m và 01 căn nhà tường cấp 4 ngang 04m x dài 20m, nhà lợp tole, cửa sắt kính, trần tole lạnh, nền gạch men, tường xây tô bên trong có dán gạch men cao 1,6m và tất cả cây trồng có trên đất như: 05 cây dừa trên 20 năm tuổi, 02 cây xoài trên 05 năm tuổi, 01 cây vú sửa trên 10 năm tuổi, 01 cây bưởi trên 05 năm tuổi, 02 cây quýt trên 05 năm tuổi, 01 cây điều trên 03 năm tuổi, 01 cây mít trên 03 năm tuổi, 02 cây cóc trên 02 năm tuổi, 01 cây trứng cá trên 03 năm tuổi...
01 nhà tạm khung sắt tiền chế ngang 6m x dài 6m và 01 mái che khung sắt tiền chế, lợp tole 3,6m x 10 m.
Như vậy, tài sản thế chấp là Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 315664, số vào sổ cấp GCN: CS07698, thửa đất số 423, tờ bản đồ số 31, diện tích 1543,4 m², do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 01-4-2019 cho chị L, anh T2 đứng tên. Đất tọa lạc tại: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh cùng toàn bộ tài sản gắn liền với đất vẫn còn hiệu lực đến khi anh T2, chị L thanh toán nợ cho Quỹ tín dụng để bảo đảm cho khoản vay của Hợp đồng cho vay số 221209/04/HĐCV, ngày 12-5-2022 và được xử lý theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự đối với giao dịch bảo đảm.
[4] Về chi phí tố tụng: Số tiền chi phí thẩm định 2.000.000 đồng, Quỹ tín dụng đã nộp và chi phí xong. Anh T2, chị L trả lại cho Q tín dụng nhân dân Châu Thành 2.000.000 đồng.
[5] Về án phí: Anh Nguyễn Văn T1 và chị Lê Thị L phải chịu theo quy định pháp luật.
[6] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 317, 318, 319, 320, 323 của Bộ Luật Dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Quỹ tín dụng nhân dân C
Buộc anh Nguyễn Văn T1 và chị Lê Thị L trả cho cho Q tín dụng nhân dân Châu Thành số tiền nợ gốc là 550.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn, quá hạn tính đến ngày 22-7-2024 là 194.768.607 đồng. Tổng cộng nợ gốc và lãi buộc anh T1, chị L trả là 744.768.607 đồng (bảy trăm bốn mươi bốn triệu bảy trăm sáu mươi tám nghìn sáu trăm lẻ bảy) đồng.
5
2. Tài sản đảm bảo là: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CR 315664, số vào sổ cấp GCN: CS07698, thửa đất số 423, tờ bản đồ số 31, diện tích 1543,4 m² do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 01-4-2019 cho chị L, anh T1 đứng tên. Đất tọa lạc tại: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 221209/04/HĐTC ngày 12-5-2022.
Tài sản nêu trên nếu anh T1, chị L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Chi cục thi hành án dân sự huyện C sẽ phát mãi để thi hành án cho Quỹ tín dụng nhân dân C theo Hợp đồng cho vay số 221209/04/HĐCV, ngày 12-5-2022.
Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm 22-6-2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này. Trường hợp các bên thỏa thuận việc điều chỉnh mức lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của tổ chức tín dụng thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của tổ chức tín dụng.
4. Về chi phí tố tụng: Số tiền chi phí thẩm định 2.000.000 đồng, Quỹ tín dụng đã nộp và chi phí xong. Anh T1, chị L trả lại cho Q tín dụng nhân dân Châu Thành 2.000.000 đồng.
4. Về án phí: Anh Nguyễn Văn T1 và chị Lê Thị L phải chịu 33. 790.744 đồng (ba mươi ba triệu bảy trăm chín mươi nghìn bảy trăm bốn mươi bốn) đồng tiền án dân sự sơ thẩm.
Quỹ tín dụng nhân dân Châu T2 không phải chịu án phí. Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành hoàn trả cho Q tín dụng nhân dân Châu Thành số tiền tạm ứng án phí đã nộp 16.029.280 ( mười sáu triệu không trăm hai mươi chín nghìn hai trăm tám mươi) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009028 ngày 26-3-2024.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Võ Thanh Hùng |
Bản án số 97/2024/DS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 97/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
