|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG – THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 97/2024/HS-ST |
|
|
Ngày: 22-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thanh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Truyền
Ông Trần Văn Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc T - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 75/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 94/2024/QĐXXST-HS ngày 08/5/2024 đối với bị cáo:
Phan Như T1 (tên gọi khác: T2), sinh năm 1980; tại Ninh Thuận.
Nơi cư trú: Khu phố F, phường K, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Như M (đã chết) và bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1957; có vợ tên Nguyễn Thị Mai T3 (đã ly hôn), có 02 người con.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 29/9/2021, bị Ủy ban nhân dân phường T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe người khác.
Nhân thân: Ngày 17/11/2005, bị Công an phường K xử phạt vi phạm hành chính số tiền 50.000 đồng về hành vi đánh nhau.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 27/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P – T, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Mai T3, sinh năm 1974 (có yêu cầu xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố F, phường K, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Như T1 và bà Nguyễn Thị Mai T3 (sinh năm: 1974, trú tại: khu phố D, phường T) là vợ chồng nhưng không hoà hợp nên không sống chung với nhau và hiện nay đã ly hôn. Đến khoảng tháng 4/2023, vì con gái của bà T3 muốn bà T3 về nhà sống với T1 nên bà T3 đồng ý dọn về khu phố F, phường K, thành phố P - T để tiếp tục chung sống với T1. Do nghi ngờ bà T3 có quan hệ bất chính với người khác nên trong các ngày 24/9/2023, ngày 29/9/2023, ngày 02/10/2023, T1 đã 03 lần thực hiện hành vi dùng hung khí nguy hiểm đánh bà T3, cụ thể như sau:
- - Lần thứ nhất: Khoảng 21 giờ ngày 24/9/2023, tại khu phố F, phường K, T1 dùng 01 chày bằng gỗ đánh nhiều cái vào vùng đầu gối 02 chân của bà T3, bà T3 đưa 02 tay đỡ thì bị T1 đánh trúng bàn tay của bà T3. Hậu quả: bà T3 bị bầm tím 02 vùng đầu gối và sưng 02 mu bàn tay nhưng không gây thương tích.
- - Lần thứ hai: Khoảng 22 giờ ngày 28/9/2023, tại khu phố F, phường K, sau khi T1 dùng 01 dây vòi xịt bằng kim loại dài 1,4 mét để đe doạ bà T3 và hỏi về mối quan hệ bất chính với người khác thì T1 dùng 01 thanh kim loại dài 33cm, một đầu dẹp đánh nhiều cái trúng vào vùng đùi, bắp chân bà T3. Đến khoảng 05 giờ 30 phút ngày 29/9/2023, T1 tiếp tục dùng 01 con dao có cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài 20cm chém trúng 01 cái vào mắt cá ngoài chân trái bà T3 gây thương tích. Sau khi thấy bà T3 bị chảy máu, T1 chở bà T3 đến bệnh viện S để điều trị vết thương.
- - Lần thứ ba: Khoảng 18 giờ ngày 02/10/2023, tại khu phố F, phường K, T1 dùng tay đấm nhiều cái vào vùng ngực, mặt và người bà T3, rồi T1 tiếp tục 01 con dao có cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài 20cm chém 03 nhát thì 01 nhát trúng vào vùng cẳng chân phải bà T3, 01 nhát dùng phần sống dao chém vào cổ chân phải bà T3, 01 nhát T1 chém thì bà T3 đưa tay đỡ, trúng vào cổ tay phải. Khi đó, T1 tiếp tục dùng phần má dao đập nhiều cái trúng vào vùng đùi phải, mu bàn tay phải bà T3.
Sau khi bị đánh nhiều lần, do lo sợ T1 tiếp tục đánh gây ảnh hưởng đến tính mạng nên bà T3 chuyển chỗ ở và trình báo đến Cơ quan Công an. Tại Cơ quan điều tra, Phan Như T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
* Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 273/KLTTCT-TTGĐYK-PY ngày 16/11/2023 của Trung tâm G, Sở y tế tỉnh N, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà Nguyễn Thị Mai T3 tại thời điểm giám định là 08%, cụ thể như sau:
“Mi dưới mắt trái có vết sưng bầm nền đỏ kích thước (2,5x1)cm (01%); Vết thương chéo mặt sau cổ tay phải sẹo liền tốt kích thước (2,4x0,2)cm (01%); Vết thương ngang mắt cá ngoài chân trái sẹo liền tốt kích thước (3x0,3)cm (02%); Cổ bàn chân phải có vết bầm tím nền đỏ kích thước (6,5x0,2)cm (01%); Vết thương mặt ngoài 1/3 trên cẳng chân phải sẹo liền tốt kích thước (3,5x0,4)cm (02%); Khuỷu tay trái mặt sau còn sưng bầm tím kích thước (3,5x2)cm (01%). Cơ chế hình thành vết thương: Vùng cổ tay phải, vùng mắt cá ngoài chân trái, cẳng chân phải là do vật sắc, còn lại các tổn thương khác do vật tày”.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án đã nêu.
Cáo trạng số 84/CT-VKSPRTC ngày 01/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T truy tố bị cáo Phan Như T1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Như T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phan Như T1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 con dao có cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài 20cm; 01 dây vòi xịt bằng kim loại dài 1,4 mét; 01 thanh kim loại dài 33cm, một đầu dẹp là công cụ sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng.
Bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn và hối cải về hành vi của mình. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P – T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Bị hại bà Nguyễn Thị Mai T3 có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy bị hại vắng mặt đã có lời khai trong vụ án, việc vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt bị hại.
[3] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài, liệu chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vì mâu thuẫn nhỏ nhặt giữa vợ chồng mà trong các ngày 29/9/2023 và 02/10/2013, tại khu phố F, phường K, thành phố P - T, Phan Như T1 đã 02 lần thực hiện hành vi sử dụng dao là hung khí nguy hiểm đánh, chém bà Nguyễn Thị Mai T3 gây thương tích lần lượt với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02% và 06%, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 8%. Như vậy, có căn cứ xác định Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang -T truy tố bị cáo Phan Như T1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 2 (thuộc điểm a, i khoản 1) Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội:
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong đời sống vợ chồng mà bị cáo đã nhiều lần dùng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bà T3. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện bản chất côn đồ, xem thường pháp luật, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương; do đó cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Phan Như T1 có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau và có 01 tiền sự bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khoẻ của người khác, tuy nhiên lần này bị cáo lại tiếp tục vi phạm pháp luật thể hiện bị cáo không chịu tu dưỡng bản thân.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra cũng như tại phiên tôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phần hình phạt khi lượng hình.
[6] Về hình phạt:
Trên cơ sở phân tích, đánh giá mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như xem xét đầy đủ về nhân thân, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
[7] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 con dao có cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài 20cm; 01 dây vòi xịt bằng kim loại dài 1,4 mét; 01 thanh kim loại dài 33cm, một đầu dẹp. Đây là công cụ sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu huỷ.
- - Đối với 01 cái chày bằng gỗ, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng chưa thu giữ được nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[8] Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Phan Như T1 (tên gọi khác: T2) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Phan Như T1 (tên gọi khác: T2) 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2023.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao có cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại dài 20cm; 01 dây vòi xịt bằng kim loại dài 1,4 mét; 01 thanh kim loại dài 33cm, một đầu dẹp theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 11/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P – T và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Rang – T.
-
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Phan Như T1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 22/5/2024. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thanh Tuấn |
Bản án số 97/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 97/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG – THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Như T phạm tội Cố ý gây thương tích
