Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2024/DS-PT
Ngày 22 tháng 4 năm 2024
V/v tranh chấp quyền sử
dụng đất; hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và
tranh chấp liên quan đến tài
sản bị cưỡng chế để thi hành
án theo quy định của pháp
luật về thi hành án dân sự

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Tâm

Các Thẩm phán: Ông Cao Minh Lễ;

Ông Đào Chí Keo;

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Loan– Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Lương Thị Hương.- Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 294/2023/TLPT-DS ngày 16 tháng 11 năm 2023về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 186/2023/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 63/2024/QĐXXPT-DS ngày 19 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Tạ Thị Bích T, sinh năm 1970; địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của bà T: Ông Hồ Trung C, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ B, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (theo Giấy ủy quyền ngày 28/11/2022), có mặt.

2. Bị đơn: Bà Lê Mỹ H, sinh năm 1982; địa chỉ: số B, tổ I, ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang, có mặt.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Bà Tạ Thị Minh T1, sinh năm 1972; địa chỉ: ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của bà T1: Ông Hồ Trung C, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ B, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (theo Giấy ủy quyền ngày 02/12/2022), có mặt.

- Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; địa chỉ: ấp L, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang, có ông Trần Văn H1, chức vụ: Chấp hành viên, đại diện theo văn bản ủy quyền ngày 02/4/2024 của Chi cục Trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, vắng mặt.

4. Người kháng cáo:

- Bà Tạ Thị Bích T, sinh năm 1970; địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, do ông Hồ Trung C đại diện theo ủy quyền, có mặt.

- Bà Lê Mỹ H, sinh năm 1982; địa chỉ: số B, tổ I, ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Tạ Thị Bích T do ông Hồ Trung C đại diện theo ủy quyền trình bày: Bà Tạ Thị Bích T được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02068 ngày 27/10/2014 đối với diện tích đất 1.255,1m², thuộc thửa đất số 6, tờ bản đồ địa chính số 23, tọa lạc tại ấp M, xã H, huyện C, tỉnh An Giang;

Bà Tạ Thị Bích T2 được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02067 cấp ngày 27/10/2014 đối với diện tích đất 998,3m² thửa số 106, tờ bản đồ 23 tọa lạc tại ấp M, xã H, huyện C, tỉnh An Giang;

Vào ngày 15/7/2017, bà Tạ Thị Bích T và bà Tạ Thị Minh T1 hợp đồng chuyển nhượng các diện tích đất trên cho bà Lê Mỹ H. Các bên thỏa thuận tổng diện tích của hai thửa là 2.253,4m² nhưng chỉ chuyển nhượng 2.000m², giá 350.000.000 đồng/1000m² còn lại 253,4m² là của bà Tạ Thị Bích T sử dùng làm lối đi xuống kênh mương và đi vào các diện tích đất khác. Do diện tích này không đủ điều kiện tách thửa nên hai bên thỏa thuận sẽ để cho bà H đứng tên dùm diện tích đất này (hợp đồng mua bán đất ngày 15/7/2017 không có công chứng chứng thực). Đối với diện tích đất 998,3m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02067, thửa số 106, tờ bản đồ 23, do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 27/10/2014 cho bà Tạ Thị Bích T2 phần đất này đã chuyển nhượng xong không có tranh chấp.

Ngày 24/7/2017, bà T lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với diện tích 1.255,1m² cho bà Lê Mỹ H, được Ủy ban nhân dân xã H chứng nhận cùng ngày. Căn cứ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này, bà Lê Mỹ H được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS02068 ngày 17/8/2017, diện tích 1255,1 m², loại đất LUC, thửa đất số 06, tờ bản đồ số 23. Tuy nhiên, bà T vẫn quản lý, sử dụng phần đất diện tích 253,4m² đất theo thỏa thuận ngày 15/7/2017. Do phần diện tích đất mà bà T nhờ bà H đứng tên dùm đang bị Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới kê biên theo thông báo số 991/TB-CCTHADS ngày 22/9/2022 và Quyết định số 52/QĐ-CCTHADS ngày 25/4/2022, nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Lê Mỹ H trả lại cho bà diện tích đất nhờ đứng tên dùm là 253,4m², loại đất LUC. Tuy nhiên diện tích đất qua đo đạc thực tế là 222,8m² nên nguyên đơn xin thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện là yêu cầu bà Lê Mỹ H trả cho bà T là 222,8m² đất lúa; tọa lạc ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Đồng thời. Bà T yêu cầu bà Lê Mỹ H phải trả số tiền 64.000.000 đồng là tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất còn thiếu.

Bà T thống nhất giá đất theo chứng thư thẩm định giá ngày 14/7/2023 của Công ty T3.

- Bị đơn bà Lê Mỹ H trình bày: Thống nhất việc thỏa thuận chuyển nhượng đất ngày 15/7/2017 với bà T và bà T2. Diện tích đất của bà T chuyển nhượng cho bà H có diện tích là 1.255,1m² loại đất LUC, thửa số 6, tờ bản đồ 23, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02068 cấp ngày 27/10/2014 do Ủy ban nhân dân huyện C cho bà Tạ Thị Bích T. Nhưng thực tế chỉ chuyển nhượng là 1.001,7m², còn lại 253,4m² do không tách thửa được nên bà mới H đứng tên dùm cho bà T. Ngày 24/7/2017, hai bên có làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 1.255,1m² và được Ủy ban nhân dân xã H chứng nhận cùng ngày. Đến ngày 17/8/2017, bà H được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS02068, với diện tích 1255,1m², loại đất LUC, thửa đất số 06, tờ bản đồ số 23; tọa lạc tại ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.

Bà H đồng ý trả lại diện tích đất đã đứng tên dùm cho bà T 253,4m², qua đo đạc thực thế theo Sơ đồ hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đấtđai – Chi nhánh C1 lập ngày 24/6/2023, diện tích còn lại là 222,8m². Đối với số tiền 64.000.000 đồng là tiền nợ của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24/7/2017, bà H thừa nhận còn nợ số tiền này và hứa sẽ bán đất trả số tiền này cho bà T.

Bà H thống nhất giá đất theo chứng thư thẩm định giá ngày 14/7/2023 của Công ty T3.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Tạ Thị Minh T1 do ông Hồ Trung C đại diện theo ủy quyền trình bày: Thống nhất với lời trình bày của bà T.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Trần Văn H1 đại diện Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang trình bày: Căn cứ vào các Quyết định, Bản án của Tòa án đã có hiệu lực thi hành, trên cơ sở đơn yêu cầu thi hành án của các đương sự, Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới thi hành các bản án: số 05/2021/DS-ST ngày 09/7/2021; số 43/2021/DS-PT ngày 06/4/2021; số 42/2022/DS-PT ngày 03/3/2022; Quyết định số: 19/2022/QĐST-DS, ngày 31/3/2022 và Quyết định số 52, ngày 25/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang thì bà Lê Mỹ H phải thi hành án với số tiền tổng cộng là 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng). Qua xác minh thì bà Lê Mỹ H có đứng tên 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích là 2253,4m² nên Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới tiến hành cưỡng chế kê biên tài sản của bà Lê Mỹ H để đảm bảo thi hành án đối với tài sản trên là phù hợp với pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại Bản án sơ thẩm số 186/2023/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang đã tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tạ Thị Bích T đối với bị đơn bà Lê Mỹ H. Buộc bà Lê Mỹ H có trách nhiệm trả cho bà Tạ Thị Bích T số tiền là 304.624.000 đồng. Trong đó 240.624.000 đồng (giá trị đất 222,8m²) và 64.000.000 đồng là tiền nhận chuyển nhượng đất còn thiếu theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24/7/2017.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Tạ Thị Bích T đối với diện tích đất 30,6m².

Về chi phí tố tụng: Bà Lê Mỹ H có trách nhiệm hoàn trả cho bà Tạ Thị Bích T số tiền 6.409.200 đồng tiền chi phí đo đạc, chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 25/9/2023, nguyên đơn bà Tạ Thị Bích T kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi của bà T.

Ngày 03/11/2023, bị đơn bà Lê Mỹ H kháng cáo bản án sơ thẩm số, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, buộc bà H trả cho bà T diện tích đất 222,8 m² và 64.000.000 đồng.

Tại phiên toà phúc thẩm:

- Đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi khởi kiện của nguyên đơn buộc bà H trả lại bà T diện tích đất 222,8 m² và 64.000.000 đồng; Ngoài ra, bổ sung yêu câu kháng cáo nếu không chấp nhận việc trả lại cho bà T 222,8 m² đất thì yêu cầu công nhận cho bà T được quyền sử dụng diện tích đất trên để đảm bảo quyền lợi cho bà T trong quá trình thi hành án.

- Bị đơn bà H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, Thẩm phán đã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm, đảm bảo đúng các nguyên tắc, phạm vi xét xử, thành phần và sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thủ tục phiên tòa được đảm bảo đúng pháp luật của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử: không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 186/2023/DS- ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn bà Tạ Thị Bích T và bị đơn bà Lê Mỹ H kháng cáo trong thời hạn luật định, có nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Đại diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xét xử vắng mặt Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.

[2] Về nội dung:

Theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Tạ Thị Bích T với bà Lê Mỹ H được Ủy ban nhân dân xã H, huyện C chứng thực ngày 24/7/2017 thì diện tích đất bà T chuyển nhượng cho bà H là 1.255,1 m² loại đất chuyên trồng lúa nước, thửa đất số 6, tờ bản đồ số 23 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02068 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 27/10/2014 cho bà Tạ Thị Bích T. Bà H đã thanh toán tiền chuyển nhượng cho bà T theo thỏa thuận, còn nợ lại 64.000.000 đồng và bà H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất nhận chuyển nhượng.

Ngoài ra, bà H còn nhận chuyển nhượng của bà Tạ Thị Minh T1 diện tích đất 998,3m², Bà H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các bên thống nhất diện tích đất này không liên quan đến tranh chấp giữa bà T bà bà H.

Theo lời trình bày của bà T và bà H thì các bên thỏa thuận chỉ chuyển nhượng một phần của diện tích đất 1.255,1 m², bà T đồng ý để cho bà H đứng tên giùm phần diện tích 253,4m², do phần đất này bà T để lại làm lối đi xuống kênh, mương và các phần đất khác. Việc thỏa thuận này được các bên thống nhất, thừa nhận.

Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T và bà H được thực hiện trên cơ sở tự nguyện, nội dung và hình thức không trái quy định của pháp luật nên đã phát sinh hiệu lực, giữa bà T và bà H không phát sinh tranh chấp. Hợp đồng đã được thực hiện, bà H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với toàn bộ diện tích 1.255,1 m².

Trong quá trình tổ chức thi hành các bản án đã có hiệu lực pháp luật, trong đó bà H là người phải thi hành án, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới đã tiến hành cưỡng chế kê biên tài sản của bà H trong đó có diện tích đất nhận chuyển nhượng của bà T 1.255,1 m².

Như vậy việc Chi cục thi hành án dân sự kê biên tài sản của bà H, trong đó có diện tích đất 1.255,1 m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 02068 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 27/10/2014 cho bà Tạ Thị Bích T là có căn cứ, đúng quy định pháp luật, bởi vì quyền sử dụng đất trên thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà H, đồng thời, tại Bản án dân sự phúc thẩm số 42/2022/DS-PT ngày 03/3/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang cũng đã tuyên tiếp tục duy duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời số 26/2020/QĐ-ADBPKCTT ngày 10/8/2020 và Thông báo đính chính số 26a/TB-ĐCADBPKCTT ngày 11/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ trong đó có diện tích đất 1.255,1 m² bà H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Việc bà T và bà H yêu cầu tuyên buộc bà H giao trả cho bà T diện tích đất 253,4m² (đo đạc thực tế còn lại là 222,8m²) mà bà H đứng tên giùm bà T là không có căn cứ và không phù hợp với quy định về diện tích tối thiểu được tách thửa theo Quy định tại Quyết định số 103/2016/QĐ-UBND ngày 23/12/2016; Quyết định số 08/2020/QĐ-UBND ngày 25/02/2020; Quyết định số 19/2023/QĐ-UBND ngày 08/5/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh A. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc bà H trả cho bà T giá trị diện tích đất 222,8m² (theo kết quả đo đạc thực tế và kết quả thẩm định giá) tương đương số tiền 240.624.000 đồng là có căn cứ.

Ngoài ra, cấp sơ thẩm công nhận sự tự nguyện của bà H và bà T về việc bà hạnh trả cho bà T tiền chuyển nhượng đất còn nợ 64.000.000 đồng là phù hợp, các đương sự không kháng cáo về phần này.

Bà T và bà H kháng cáo yêu cầu chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T buộc bà H trả cho bà T 222,8m² là không có cơ sở chấp nhận.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện nguyên đơn yêu cầu xác định giá trị của diện tích đất 222,8m² trong diện tích đất 1.255,1 m² là của bà T để đảm bảo quyền lợi cho bà T khi cưỡng chế thi hành án là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Quan điểm của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới là phù hợp nên được chấp nhận.

[3] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà T và bà H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Tạ Thị Bích T và bà Lê Mỹ H.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 186/2023/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tạ Thị Bích T đối với bị đơn bà Lê Mỹ H. Buộc bà Lê Mỹ H có trách nhiệm trả cho bà Tạ Thị Bích T số tiền là 304.624.000 đồng. Trong đó: 240.624.000 đồng (giá trị đất 222,8m²) và 64.000.000 đồng là tiền nhận chuyển nhượng đất còn thiếu theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24/7/2017.
  2. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Tạ Thị Bích T đối với diện tích đất 30,6m².
  4. Về chi phí tố tụng:

    Bà Lê Mỹ H có trách nhiệm hoàn trả cho bà Tạ Thị Bích T số tiền 6.409.200 đồng (sáu triệu bốn trăm lẻ chín nghìn hai trăm đồng) tiền chi phí đo đạc, chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản.

  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Lê Mỹ H phải chịu 15.230.000 đồng (mười lăm triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Bà Tạ Thị Bích T được nhận lại 1.900.000 đồng (một triệu chín trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0012920 ngày 23/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

  6. Án phí dân sự phúc thẩm: bà Tạ Thị Bích T phải chịu là 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0013958 ngày 04/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.

    Bà Lê Mỹ H phải chịu là 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0014554 ngày 06/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.

    Bà T và bà H đã nộp đủ án phí phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND huyện Chợ Mới;
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Mới ;
  • - Tòa Dân sự;
  • - Phòng KTNV và THA;
  • - Văn phòng;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thanh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2024/DS-PT ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự

  • Số bản án: 97/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp về quyền sử dụng đất đã chuyển nhượng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger