Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2025/HS-ST

Ngày: 17 - 12 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Xuân Phong

+ Ông Nguyễn Văn Mặc Vũ

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hương - Thẩm tra viên Toà án nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Duyên - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 91/2025/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2025/QĐXXST - HS ngày 11/11/2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Hà Mỹ X, sinh năm: 1993, tại: Lâm Đồng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B N, Phường F, Thành phố Đ (nay là Phường C - Đ), tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Số C Khu A, đường C, Phường G, thành phố Đ (nay là Phường L - Đ), Tỉnh Lâm Đồng; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Quang Ẩ, sinh năm: 1964 và bà: Huỳnh Thị D, sinh năm: 1971; chồng: Hoàng Quốc V, sinh năm: 1992 (đã ly hôn); sống chung như vợ chồng với Thân Phúc H, sinh năm: 1996 (chưa đăng ký kết hôn); có 02 người con, lớn nhất sinh năm: 2017, nhỏ nhất sinh năm: 2021; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân:

+ Tại Bản án số 37/2016/HSST ngày 19/4/2016, Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt Nguyễn Hà Mỹ X 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; đã chấp hành xong bản án ngày 02/6/2016.

Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 10/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh L.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hà Mỹ X: Ông Liêng Hót Hà T, sinh năm: 1967, là Luật sư Văn phòng Luật sư Phan Công Q thuộc Đoàn luật sư tỉnh L.

2. Họ và tên: Nguyễn Văn N, sinh năm: 2000, tại: Quảng Ngãi; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã C, huyện C (nay là xã C), tỉnh Khánh Hòa; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Q1, sinh năm: 1973 và bà: Trịnh Thị L, sinh năm: 1975; vợ: Phạm Ngọc T1, sinh năm: 2000; có 01 người con, sinh năm: 2021; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân:

+ Tại Bản án số 81/2025/HSST ngày 21/4/2025, Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xử phạt Nguyễn Văn N 10 (mười) năm về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 10/9/2024, hiện đang chấp hành án tại Trại giam X2 của C - Bộ C1.

- Người làm chứng: Anh Bùi Đặng Gia L1, sinh năm: 1993; địa chỉ: Số H đường Đ, Phường L - Đ, Tỉnh Lâm Đồng.

- Người chứng kiến: Chị Huỳnh Thị Thiên T2, sinh năm: 1999; địa chỉ: Số C Khu A, đường C, Phường L - Đ, Tỉnh Lâm Đồng.

(Các bị cáo và Luật sư có mặt; người làm chứng và người chứng kiến vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hà Mỹ X là đối tượng sử dụng ma túy đá và không có nghề nghiệp ổn định. Do có nhu cầu sử dụng ma túy và bán lại cho người khác kiếm lời, từ tháng 02/2024 đến tháng 8/2024, thông qua mối quan hệ xã hội, X khai nhận đã nhiều lần liên hệ với Nguyễn Mạnh D1, Bùi Đặng Gia L1 và đối tượng tên C (ở TP Hồ Chí Minh, không rõ nhân thân, lai lịch) để mua ma túy đá để sử dụng và bán cho người khác kiếm lời.

Khoảng 11h00 ngày 10/9/2024, khi X đang ở căn hộ S khu A, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T6, tỉnh Lâm Đồng đến kiểm tra trong phòng ngủ thứ 2 tính từ ngoài vào, tại hộc bàn trang điểm bên trái phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 gói nilon màu trắng trong dạng túi zip, kích thước 10cm x 16cm, bên trong có chất tinh thể màu trắng là ma túy đá; 01 gói nilon màu trắng trong, dạng túi zip, kích thước 7,5cm x 4cm, bên trong có chất tinh thể màu trắng là ma túy đá qua giám định có khối lượng 41,6962g (bốn một phẩy sáu chín sáu hai gam), loại Methamphetamine. Thu giữ 03 ống thủy tinh được uốn cong có bầu tròn hở (dụng cụ X dùng để sử dụng ma túy đá) có bám dính chất ma túy qua giám định có khối lượng 0,123g (không phẩy một hai ba gam), loại Methamphetamine

Ngoài ra còn thu giữ trong túi áo bên trái tại móc đồ phía sau cửa ra vào nhà vệ sinh 01 gói nilon màu đen, dạng túi zip, bên trong có chất ma túy có khối lượng 1,6037g (Một phẩy sáu không ba bảy gam), loại Ketamine.

(Tại kết luận giám định số 1062/KL-KTHS ngày 16 tháng 09 năm 2024, Phòng K Công an tỉnh L)

Quá trình điều tra, xác định:

Tháng 6/2024, thông qua Bùi Đặng Gia L1, X biết đối tượng tên C ở Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh có bán ma túy đá. Từ tháng 6/2024 đến tháng 8/2024, X đã 02 lần mua ma túy đá của C, mỗi lần mua 50gam giá 20.000.000 đồng. Cuối tháng 8/2024, X tiếp tục liên hệ với C mua 50 gam ma túy đá giá 20 triệu đồng. Xuyên nhận ma túy tại nhà xe Đ và mang về phòng ngủ của mình tại căn hộ S khu A, phường G, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (nay là C A, đường C, Phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng), X dùng ống hút vót nhọn một đầu phân chia số ma túy đá vào 01 (một) túi zip nylon màu trắng kích thước khoảng 10cm x 16cm và 01 (một) túi zip nylon kích thước khoảng 7,5cm x 4cm. X lấy ma túy đá để sử dụng cho bản thân, hai túi ma túy đá phân chia Xuyên cất vào hộc bàn trang điểm khi nào có khách hỏi thì X bán kiếm lời.

Xuyên đã nhiều lần bán ma túy cho nhiều đối tượng (không rõ nhân thân, lai lịch), trong đó X đã bán ma túy cho Nguyễn Văn N (đối tượng sử dụng ma túy đá, thuê nhà trọ của X để ở) 03 lần, cụ thể:

Lần 1: Khoảng đầu tháng 8/2024, N liên lạc với X để mua 800.000đ tiền ma túy đá, X trực tiếp giao cho N và nhận tiền mặt (do thời gian đã lâu nên X và N không nhớ rõ địa điểm giao nhận ma túy);

Lần 2: Khoảng giữa tháng 8/2024, N tiếp tục mua của X 1.500.000đ tiền ma túy đá, X trực tiếp giao ma túy cho N và nhận tiền mặt (do thời gian đã lâu nên X và N không nhớ rõ địa điểm giao nhận ma túy);

Lần 3: Vào ngày 08/9/2024, tại căn hộ S khu A, phường G, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, N hỏi mua của X 05g ma túy đá với giá 2.500.000đ, Nhĩ hứa sẽ trả tiền sau. Xuyên phân chia ma túy và bán cho N, sau đó N mang ma túy đá về căn phòng số 3 tại căn hộ S Khu A, đường C, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng để cất giấu. Đến khoảng 02 giờ ngày 10/9/2024, N lấy ma túy đá ra sử dụng cùng bạn gái là Mai Anh M (SN: 2004; HKTT: số C khu Phố T, phường V, thị xã T, tỉnh Bình Dương). Số ma túy đá còn lại, N vẫn cất giấu trong túi quần. Khoảng 11 giờ ngày 10/9/2024, khi N và M đang ở trong phòng thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện tạm giữ, niêm phong ma túy và các đồ vật tài liệu liên quan. Số ma túy N bị thu giữ gồm 5,8317g (năm phẩy tám ba một bảy gam) Methamphetamine là ma túy Nhĩ mua của Nguyễn Hà Mỹ X để sử dụng. Ngoài ra, còn thu giữ 1,999g (một phẩy chín chín chín một gam), loại MDMA. Đối với hành vi tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn N đã bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 điều 249 Bộ Luật hình sự và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ Luật hình sự tại Bản án số 81/2025/HSST ngày 21/4/2025.

Đối với số ma túy khối lượng 1,6037g (một phẩy sáu không ba bảy gam), loại Ketamine thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Hà Mỹ X, quá trình điều tra xác định:

Khoảng 23 giờ ngày 08/9/2024, X hỏi N “có biết chỗ nào bán ma túy Ketamine không, mua giúp chị nửa hộp 5”, N nói “có” và N liên hệ với người tên T3 (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua ma túy Ketamine, T3 gửi số điện thoại người bán ma túy Ketamine qua ứng dụng Zalo cho N. Nhĩ hỏi mua khoảng 2,5g ma túy Ketamine, người bán báo giá 2.700.000đ (hai triệu bảy trăm ngàn đồng). N nói lại với X, X đồng ý và chuyển 2.700.000 đồng đến tài khoản ngân hàng V1 số 1024122071 tên “Nguyễn Văn N” để nhờ N mua ma túy. Theo hướng dẫn của người bán ma túy, N rút tiền mặt và để tiền mua ma túy ở bánh sau chiếc xe ô tô đậu tại khu vực đầu đường C, phường L - Đ, tỉnh Lâm Đồng và lấy gói thuốc lá cất dưới bánh xe và mang về căn hộ C Khu A. Tại đây, Nhĩ mở gói thuốc lá, lấy túi zip nylon màu đen chứa ma túy Ketamine đưa cho X và vứt gói thuốc lá đi. X cầm gói ma túy Ketamine này bỏ vào trong túi áo treo trong nhà vệ sinh, mục đích khi có khách hỏi mua thì X sẽ bán kiếm lời. Khi nhờ N mua giúp ma túy loại Ketamine, X không nói mục đích mua ma túy Ketamine cho N biết, N cũng không biết X mua ma túy loại Ketamine về để làm gì.

Quá trình điều tra, Nguyễn Hà Mỹ X, Nguyễn Văn N đã khai nhận toàn bộ nội dung như đã nêu trên, lời khai phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án (BL 23-25;31-37; 66-115; 161-165; 179-186; 207-217).

Ngoài ra, quá trình bắt quả tang X còn thu giữ:

  • - 01 (một) chai nhựa gắn nắp màu xanh, trên nắp có gắn 01 ống hút nhựa màu trắng; 01 (một) bật lửa tự chế; 01 (một) hộp kim loại và nắp bằng nhựa màu xám; 01 (một) gói nilon màu trắng trong dạng túi zip, kích thước 8,5cm x 5cm, bên trong chứa 02 gói nilon màu trắng trong dạng túi zip không chứa gì; 02 (hai) ống hút màu trắng, một đầu cắt vát, một đầu hàn kín; 01 (một) cân điện tử màu đen; 01 (một) hộp giấy màu trắng bạc và nắp có dòng chữ ASPIRE; 01 (một) gói nilon màu trắng trong dạng túi zip, kích thước 8,5cm x 5cm, bên trong chứa 14 gói nilon dạng túi zip trống; 01 (một) ống hút màu cam, một đầu hàn kín, một đầu cắt vát. Tất cả được niêm phong vào 01 (một) hộp giấy được dán giấy niêm phong. Đây là dụng cụ của X dùng để sử dụng ma túy và phân chia ma túy bán lại cho người khác kiếm lời.
  • - 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu tím, bên trong gắn sim số 0868.647.374. Đây là điện thoại X sử dụng để liên lạc, giao dịch mua bán ma túy.
  • - 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Plus màu hồng, bên trong gắn sim số 0912.773.590. Đây là điện thoại di động X sử dụng để liên lạc cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm pháp về ma túy (BL23-26).

Đối với các đồ vật còn lại, VKSND tỉnh Lâm Đồng ra Quyết định chuyển vật chứng đến Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng để đảm bảo quá trình giải quyết vụ án và thi hành án.

Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 27/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Nguyễn Hà Mỹ X về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 261 của Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Hà Mỹ X và Nguyễn Văn N khai nhận, bản thân các bị cáo có thực hiện hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung cáo trạng mô tả và truy tố là hoàn toàn chính xác, các bị cáo không thắc mắc khiếu nại gì đối với cáo trạng truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Sau phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Hà Mỹ X về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hà Mỹ X từ 16 (mười sáu) đến 17 (mười bảy) năm tù; áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 24 (hai mươi bốn) đến 30 (ba mươi) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và 01 (một) cân điện tử màu đen, cùng các dụng cụ sử dụng trái pháp chất ma túy. Tịch thu bán sung Ngân sách Nhà nước và 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu tím, bên trong gắn sim số 0868.647.374. Trả cho bị cáo X 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Plus màu hồng, bên trong gắn sim số 0912.773.590.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hà Mỹ X trình bày: Cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Hà Mỹ X về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Tuy nhiên, bản thân bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện; đang nuôi hai con nhỏ; hoàn cảnh gia đình khó khăn. Vì vậy, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ hơn mức đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà, nhằm tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo tốt, sớm trở về nuôi dạy hai con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Để có ma túy sử dụng cho bản thân và bán lại cho người khác kiếm lời, từ khoảng tháng 02/2024 đến tháng 8/2024, X đã nhiều lần mua ma túy của Nguyễn Mạnh D1, Bùi Đặng Gia L1 và đối tượng tên C (không rõ nhân thân, lai lịch tại TP Hồ Chí Minh). Đến cuối tháng 8/2024, X liên lạc với C để mua 20.000.000 đồng ma túy đá, sau đó phân chia và bán cho nhiều đối tượng trên địa bàn thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nguyễn Hà Mỹ X đã bán ma túy cho

Nguyễn Văn N 03 lần. Trong đó, tối ngày 08/9/2024, X bán cho N 5,8317g (năm phẩy tám ba một bảy gam), loại Methamphetamine (Tại Bản án số 81/2025/HSST ngày 21/4/2025, Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng). Đến khoảng 11h00 ngày 10/9/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra kiểm tra phát hiện bắt quả tang, thu giữ 02 gói nilon màu trắng trong dạng túi zip bên trong có chất ma túy tại hộc bàn trang điểm bên trái trong phòng ngủ của X. Thu giữ 03 ống thủy tinh được uốn cong có bầu tròn hở (dụng cụ X dùng để sử dụng ma túy đá) có bám dính chất ma túy.

Ngoài ra, qua kiểm tra Cơ quan Công an còn thu giữ 01 gói ma tuý Xuyên cất giấu trong túi áo bên trái treo trong phòng vệ sinh. Nguồn gốc gói mà tuý này do Nguyễn Văn N mua giúp cho X với giá 2.700.000 đồng vào ngày 08/9/2025.

Tại Kết luận giám đính số 1062/KL-KTHS ngày 16/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Tổng số ma tuý trong 02 gói nilon và 03 ống thuỷ tinh thu giữ trong phòng ngủ của X có khối lượng 41,8192g (bốn một phẩy tám một chín hai hai gam), loại Methamphetamine. Riêng 01 gói ma tuý Xuyên cất giấu trong túi áo bên trái treo trong phòng vệ sinh có khối lượng 1,6037g (một phẩy sáu không ba bảy gam) loại Ketamine.

Do vậy, Nguyễn Hà Mỹ X phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bán trái phép chất ma túy đối với 47,6509g (bốn bảy phẩy sáu năm không chín gam) ma túy loại Methamphetamine và 1,6037g (một phẩy sáu không ba bảy gam) ma túy loại Ketamine, là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật. Còn Nguyễn Văn N mua giúp ma túy loại Ketamine với giá 2.700.000 đồng để X bán kiếm lời, tuy nhiên N không biết X mua ma túy Ketamine nhằm mục đích mua bán, nên Nguyễn Văn N phải chịu trách nhiệm về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đối với 1,6037g là phù hợp.

[3] Xét thấy, các bị cáo Nguyễn Hà Mỹ X và Nguyễn Văn N là người đã trưởng thành; có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và là đối tượng sử dụng ma túy. Bản thân các bị cáo biết rõ việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, nhưng là đối tượng sử dụng ma túy và để có ma túy sử dụng các bị cáo vẫn thực hiện nhằm thỏa mãn cho nhu cầu cá nhân. Hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Hà Mỹ X và Nguyễn Văn N không chỉ vi phạm pháp luật về chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương mà còn là một trong những nguyên nhân góp phần gây ra những tệ nạn xã hội khác. Căn cứ lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa; lời khai của các bị cáo, của người làm chứng và người chứng kiến quá trình điều tra, phù hợp với tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Hà Mỹ X phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo Nguyễn Văn N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 27/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng truy tố và kết luận của Kiểm sát viên ngay tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là tình tiết giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hà Thị Mỹ X1 phạm tội ba lần nên áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ Luật hình sự là có căn cứ.

[6] Trong vụ án này còn có Nguyễn Mạnh D1, là đối tượng Nguyễn Hà Mỹ X khai nhận đã nhiều lần bán ma túy đá cho X. Quá trình điều tra, D1 không thừa nhận có bán ma túy cho X nên không có căn cứ xử lý trong vụ án này.

[7] Đối với Bùi Đặng Gia L1, là đối tượng đã giới thiệu cho X chỗ mua ma túy đá. Đối với số ma túy Cơ quan điều tra bắt quả tang X mua của C thì L1 không biết. Ngoài ra, số ma túy mà X mua của L1 những lần trước đó, L1 đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự, tại Bản án số 35/HSST ngày 30/5/2025, nên không có cở sở để xử lý hình sự đối với L1 trong vụ án này.

[8] Đối với người đã bán ma túy Ketamine cho Nguyễn Văn N, do N không biết họ tên, nhân thân, lai lịch của của đối tượng này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ để xử lý theo quy định.

[9] Quá trình điều tra, X khai nhận, vào tối ngày 03/9/2024, có khách liên hệ với X mua ma túy đá, X phân chia ma túy và nhờ N đi giao giúp X. N không thừa nhận hành vi đi giao ma túy giúp X. Tuy nhiên, tại phiên toà, X xác định Nguyễn Văn N không biết X nhờ N giao giúp ma tuý. Ngoài lời khai của Nguyễn Hà Mỹ X thì không còn chứng cứ nào khác để chứng minh, xử lý Nguyễn Văn N về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” với vai trò đồng phạm giúp sức cho Nguyễn Hà Mỹ X.

[10] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ: 02 (hai) gói ma túy; 01 (một) chai nhựa gắn nắp màu xanh, trên nắp có gắn 01 ống hút nhựa màu trắng; 01 (một) bật lửa tự chế; 01 (một) hộp kim loại và nắp bằng nhựa màu xám; 01 (một) gói nilon màu trắng trong dạng túi zip, kích thước 8,5cm x 5cm, bên trong chứa 02 gói nilon màu trắng trong dạng túi zip không chứa gì; 02 (hai) ống hút màu trắng, một đầu cắt vát, một đầu hàn kín; 01 (một) hộp giấy màu trắng bạc và nắp có dòng chữ ASPIRE; 01 (một) gói nilon màu trắng trong dạng túi zip, kích thước 8,5cm x 5cm, bên trong chứa 14 gói nilon dạng túi zip trống; 01 (một) ống hút màu cam, một đầu hàn kín, một đầu cắt vát, đều là vật dụng dùng sử dụng, phân chia trái phép chất ma túy 01 (một) cân điện tử màu đen, xét thấy không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu tím, gắn sim số 0868.647.374, là phương tiện, công cụ bị cáo X dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu bán sung Ngân sách Nhà nước. Riêng 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Plus màu hồng, gắn sim số 0912.773.590, xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án và thi hành án nên trả lại cho bị cáo X là phù hợp.

[11] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hà Mỹ X phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    1. Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hà Mỹ X 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 10/9/2024.
    2. Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 02 (hai) năm tù.

      + Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt tù với Bản án số 81/2025/HSST ngày 21/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng (nay là Toà án nhân dân khu vực 1 - Lâm Đồng), buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chấp hành chung cho cả hai bản án là 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/9/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
    1. Tịch thu tiêu hủy:
      • - 01 (một) phong bì niêm phong, trên bề mặt phong bì có ghi chữ “Số: 1062/2024-PC09; Nguyễn Hà Mỹ X -1993; HKTT: 29/4 Ngô Quyền, P, TP Đ, tỉnh Lâm Đồng; QĐTC: 3855/QĐ-ĐCSMT ngày 10/9/2024, bao gói”. Phong bì có chữ ký, họ tên của Phạm Thị D2, Trần Văn T4, Nguyễn Quang H1 và đấu dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh L.
      • - 01 (một) phong bì niêm phong, trên bề mặt phong bì có ghi chữ “Số: 1062/2024-PC09; Nguyễn Hà Mỹ X -1993; HKTT: 29/4 Ngô Quyền, P, TP Đ, tỉnh Lâm Đồng; QĐTC: 3855/QĐ-ĐCSMT ngày 10/9/2024”. Hoàn M3: 40,4722 (g), M4: 1,2202 (g). Phong bì có chữ ký, họ tên của Phạm Thị D2, Trần Văn T4, Nguyễn Quang H1 và đấu dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh L.
      • - 01 (một) hộp giấy, có chữa ký ghi họ tên Phan Ngọc S, Trần Văn T4, Vũ Lương T5, Huỳnh Thị Thiên T2, Nguyễn Hà Mỹ X và dấu tròn đỏ của Công an P, thành phố Đ; bên trong chứa 01 (một) chai nhựa gắn nắp màu xanh, trên nắp có gắn 01 (một) ống nhựa màu trắng; 01 (một) bật lửa tự chế; 01 (một) hộp kim loại và nắp bằng nhựa màu xám; 01 (một) gói nilon màu trắng trong dạng túi zip, kích thước 8,5cm x 5cm, bên trong chứa 02 gói nilon màu trắng trong dạng túi zip không chứa gì; 02 (hai) ống hút màu trắng, một đầu cắt vát, một đầu hàn kín; 01 (một) hộp giấy màu trắng bạc và nắp có dòng chữ ASPIRE; 01 (một) gói nilon màu trắng trong dạng túi zip, kích thước 8,5cm x 5cm, bên trong chứa 14 gói nilon dạng túi zip trống; 01 (một) ống hút màu cam, một đầu hàn kín, một đầu cắt vát;
      • - 01 (một) cân điện tử màu đen.
    2. Tịch thu bán sung Ngân sách Nhà nước:
      • - 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu tím, bên trong gắn sim số 0868.647.374 (đã được niêm phong);
    3. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hà Mỹ X 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Plus màu hồng, bên trong gắn sim số 0912.773.590 (đã được niêm phong).

      (Theo biên bản giao, nhận tang vật ngày 24/9/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Lâm Đồng).

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

    Buộc Nguyễn Hà Mỹ X và Nguyễn Văn N mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo được quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Lâm Đồng (Phòng PV.06);
  • - VKSND khu vực 1 - Lâm Đồng;
  • - Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Lâm Đồng;
  • - Cơ quan ĐT Công an tỉnh Lâm Đồng;
  • - Phòng THADS khu vực 1 - Lâm Đồng;
  • - Bị cáo; người liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2025/HS-ST ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LÂM ĐỒNG về mua bán trái phép chất ma túy; tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 97/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy; Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Nguyễn Hà My X 16 năm tù. Nguyễn Văn Nh 02 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger