TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 97/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 08-12-2025
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Nam và bà Phan Hoàng Mai.
- Thư ký phiên tòa:
Bà Trần Phan Ý Vy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - An Giang tham gia phiên tòa:
Bà Huỳnh Ngọc Minh Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 163/2025/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 294/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 348/2025/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trương Thị Mỹ T, sinh năm 2004. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: Số H, khóm T, phường L, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng H, sinh năm 1989. (Vắng mặt)
Cư trú: Số D, tổ I, khóm T, phường M, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Trương Thị Mỹ T, trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Mỹ T và ông Nguyễn Hồng H tự nguyện tìm hiểu sau đó tiến đến hôn nhân. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (nay là phường M, tỉnh An Giang) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 38 ngày 13 ngày 3 năm 2023. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi nhau về tiền bạc. Vợ chồng đã ly thân nhau từ tháng 4 năm 2025 đến nay. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Trương Thị Mỹ T yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hồng H.
+ Về con chung: Bà Trương Thị Mỹ T và ông Nguyễn Hồng H có 01 (một) con chung tên Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 06/10/2023. Hiện con chung đang sống chung với bà T nên khi ly hôn bà T yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng H không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; không tham dự phiên tòa do Tòa án triệu tập.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Mỹ T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trương Thị Mỹ T tranh chấp về ly hôn, nuôi con với ông Nguyễn Hồng H, tranh chấp được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Ông Nguyễn Hồng H có nơi cư trú tại phường M, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Hồng H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không tham gia phiên tòa, bà Trương Thị Mỹ T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt bà Trương Thị Mỹ T và ông Nguyễn Hồng H.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân:
[3.1.1] Bà Trương Thị Mỹ T và ông Nguyễn Hồng H tự nguyện quen biết, tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (nay là phường M, tỉnh An Giang) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 38 ngày 13 ngày 3 năm 2023. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà Trương Thị Mỹ T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hồng H. Bà Trương Thị Mỹ T cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi nhau về tiền bạc và hiện tại vợ chồng đã ly thân nhau từ tháng 4 năm 2025 đến nay.
[3.1.2] Hội đồng xét xử xét: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Hồng H không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Mỹ T; không tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như không tham dự các phiên tòa. Điều này thể hiện ông Nguyễn Hồng H không muốn đoàn tụ gia đình. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, các bên đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Mỹ T là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.2] Về con chung: Bà Trương Thị Mỹ T và ông Nguyễn Hồng H có 01 (một) con chung tên Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 06/10/2023. Hiện con chung đang sống chung với bà T nên khi ly hôn bà T yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
[3.2.1] Xét thấy, cháu Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 06/10/2023 chưa thành niên, hiện đang sống chung với bà Trương Thị Mỹ T. Bà Trương Thị Mỹ T có đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Hồng N. Ông Nguyễn Hồng H không có ý kiến về yêu cầu được nuôi con chung. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho cháu Nguyễn Thị Hồng N, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Nguyễn Thị Hồng N cho bà Trương Thị Mỹ T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3.2.2] Bà Trương Thị Mỹ T cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Nguyễn Hồng H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp ông Nguyễn Hồng H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của bà Trương Thị Mỹ T thì bà Trương Thị Mỹ T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông Nguyễn Hồng H.
[3.2.3] Bà Trương Thị Mỹ T và ông Nguyễn Hồng H có quyền thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con theo quy định tại Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3.3] Về cấp dưỡng: Bà Trương Thị Mỹ T không yêu cầu ông Nguyễn Hồng H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3.4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trương Thị Mỹ T không yêu cầu Tòa án giải quyết và ông Nguyễn Hồng H cũng không có ý kiến về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này các bên có phát sinh tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
[3.5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trương Thị Mỹ T có nghĩa vụ nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Mỹ T. Bà Trương Thị Mỹ T được ly hôn với ông Nguyễn Hồng H.
- Về con chung: Bà Trương Thị Mỹ T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 06/10/2023.
Bà Trương Thị Mỹ T cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Nguyễn Hồng H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp ông Nguyễn Hồng H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của bà Trương Thị Mỹ T thì bà Trương Thị Mỹ T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông Nguyễn Hồng H.
Bà Trương Thị Mỹ T và ông Nguyễn Hồng H có quyền thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con.
- Về cấp dưỡng: Không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trương Thị Mỹ T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002890 ngày 03 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Bà Trương Thị Mỹ T đã thực hiện xong.
- Về quyền kháng cáo: Bà Trương Thị Mỹ T và ông Nguyễn Hồng H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Lan |
Bản án số 97/2025/HNGĐ-ST ngày 08/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 97/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Mỹ T
