Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH CỬU

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 97/2025/HS-ST

Ngày 25/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quang Tuyến.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Nga và Ông Huỳnh Bình.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Vạn – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Tuất – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 90/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2025/TLST-HS ngày 12/6/2025, đối với bị cáo:
Đinh Tiến T, sinh ngày 04/8/1990, tại Thành phố Hà Nội; Nơi đăng ký thường trú: Thôn A, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội; Nơi ở: Ấp Ô, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đinh Hữu T1, sinh năm 1964 và bà Đào Thị N, sinh năm 1964; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Anh T2, sinh năm 1989, có 02 con sinh năm 2014 và năm 2016; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 03/4/2025 và chuyển tạm giam ngày 12/4/2025 (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại: Bà Nguyễn Ngọc N1, sinh năm 1965;
Trú tại: Tổ A, ấp Ô, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. (Có mặt tại phiên tòa)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Bùi Văn L, sinh năm 1994; Trú tại: Ấp E, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt tại phiên tòa)
* Người làm chứng:
- Ông Trần Vũ L1, sinh năm 1987;
Trú tại: Nhà trọ Công ty G, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt tại phiên tòa)
- Anh Nguyễn Đức T3, sinh năm 1995;
Trú tại: Ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đinh Tiến T sống gần nhà bà Nguyễn Ngọc N1, sinh năm 1965, ngụ tại ấp Ô, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Khoảng 23 giờ ngày 31/3/2025, T phát hiện cổng nhà bà N1 chỉ khép mà không khóa, trong nhà có 02 xe mô tô nên nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô bán lấy tiền tiêu xài. T4 mở cổng lẻn vào nhà lấy xe mô tô hiệu Vision, biển số: 60B9-132.39, màu trắng dắt ra ngoài rồi đem đến bãi đất trống cách đó khoảng 200m cất giấu vào trong bụi cỏ. Ngày 01/4/2025, T sử dụng điện thoại Nokia TA-1376, màu xanh, số sim 0969.804.901 gọi cho anh D (không rõ họ và địa chỉ) trước đây cùng làm chung Công ty J để nhờ anh D giới thiệu bán xe thì anh D đồng ý. Khoảng 08 giờ sáng ngày 03/4/2025 D gặp Trần Vũ L1, sinh năm 1987, thường trú tại: Tổ A, Ấp F, xã B, huyện A, tỉnh Kiên Giang và Bùi Văn L, sinh năm 1994, thường trú tại: Bản L, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa tại quán cháo lòng địa chỉ số nhà A, tổ A, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Tại đây D giới thiệu có người em muốn bán xe nên L1 nói đưa xe đến quán xem để mua. Cùng lúc này T gọi điện thì D cho biết địa chỉ quán và nói T mang xe đến để xem. Sau đó T rủ anh Nguyễn Đức T3, sinh năm 1995, thường trú tại ấp B, xã T, huyện V cùng đi bán xe. Khi đem xe đến điểm hẹn T nói dối xe trên của T nhưng đã cầm giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô thì anh Bùi Văn L đồng ý mua xe với giá giá 2.500.000 đồng. Khi đang giao dịch nhận tiền bán xe từ anh L thì bị lực lượng Công an Phường L, thành phố B nghi vấn kiểm tra hành chính, Đinh Tiến T đã khai nhận hành vi phạm tội nên Công an Phường L lập biên bản vụ việc chuyển Công an xã T, huyện V giải quyết.

Sau khi phát hiện xe mô tô bị mất trộm, ngày 03/4/2025, bà N1 đến Công an xã T trình báo. Cùng ngày Công an xã T thụ lý tin báo, tiếp nhận hồ sơ vụ việc từ Công an phường L, chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ giải quyết theo quy định pháp luật.

Tang vật thu giữ: 01 xe mô tô hiệu Vision, biển số: 60B9-132.39 (do anh L giao nộp); Số tiền 2.500.000 đồng; 01 điện thoại di động Nokia TA-1376, màu xanh, số sim 0969.804.901 (do T giao nộp).

Tại Kết luận định giá tài sản số 08/KL-ĐGTS, ngày 09/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận trị giá tài sản 01 xe mô tô hiệu Vision, biển số: 60B9-132.39 trị giá là 8.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên, bị cáo và bị hại đồng ý với Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện V.

Kết quả xác minh xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số: 60B9-132.39, màu trắng do chị Nguyễn Thị Uyên P, sinh năm 1991, thường trú tại ấp Ô, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (là con gái của bà N1) đứng tên giấy chứng nhận đăng ký. Năm 2013 chị P cho bà N1 xe mô tô trên nhưng không làm thủ tục tặng, cho và sang tên, hiện bà N1 là người quản lý và sử dụng xe mô tô trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại xe cho bà N1.

Bản Cáo trạng số 102/CT-VKSVC ngày 11/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu truy tố bị cáo Đinh Tiến T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Tiến T mức án từ 06 tháng đến 08 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2025.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu sung công 01 điện thoại di động N2-1376, màu xanh, số sim 0969.804.901; trả lại số tiền 2.500.000 đồng cho anh Bùi Văn L.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

* Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
  2. [2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, đã có đủ cơ sở kết luận:

    Khoảng 23 giờ ngày 31/3/2025, tại tổ A, ấp Ô, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai, Đinh Tiến T đã trộm cắp xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số: 60B9-132.39, màu trắng của bà Nguyễn Ngọc N1, trị giá tài sản bị cáo đã trộm cắp là 8.000.000 đồng.

    Bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo là đúng quy định của pháp luật.

    Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của tổ chức được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng tới trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng để có tiền tiêu xài bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung.

  3. [3] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s, khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật.
  4. [4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  5. [5] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản trộm cắp đã được giao trả cho bà Nguyễn Ngọc N1; tại phiên tòa bà N1 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm; nên về trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét, giải quyết.
  6. [6] Về xử lý vật chứng trong vụ án: Căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung công 01 điện thoại di động N2-1376, màu xanh, số sim 0969.804.901 của bị cáo Đinh Tiến T (là tài sản liên quan đến việc phạm tội của bị cáo); trả lại số tiền 2.500.000 đồng cho anh Bùi Văn L.
  7. [7] Về vấn đề khác liên quan đến vụ án:

    Trần Vũ L1, Bùi Văn L, Nguyễn Đức T3 không biết xe mô tô là do bị cáo trộm cắp mà có nên không xem xét xử lý.

    Đối với đối tượng tên D, quá trình điều tra Cơ quan điều tra chưa xác minh được thông tin về nhân thân, lai lịch nên chưa tiến hành làm việc được. Đề nghị Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ để xử lý theo quy định pháp luật.

  8. [8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  9. [9] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố bị cáo Đinh Tiến T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

    Xử phạt bị cáo Đinh Tiến T: 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2025.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu sung công 01 điện thoại di động N2-1376, màu xanh, số sim 0969.804.901 của bị cáo Đinh Tiến T.

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/6/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu)

    Trả lại số tiền 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng cho anh Bùi Văn L (số tiền này đã được Cơ quan Công an xã Thiện Tân nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu theo Biên lai thu tiền số 0004501 ngày 13/6/2025).

  3. Về án phí: Buộc bị cáo Đinh Tiến T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo luật định.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan Điều tra Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu;
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đặng Quang Tuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 97/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đinh Tiến T - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger