Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 97/2025/HS – ST

Ngày: 01 – 4 – 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Cúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Quang
  2. Bà Nguyễn Thị Tú Oanh

– Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Phan – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Thuận – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2025/TLST–HS ngày 13 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2025/QĐXXST – HS ngày 20 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Lê Quang H

Sinh ngày 23/12/1997; Tại: Đắk Lắk; Nơi thường trú: A N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở: D T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ N và con bà Lê Thị H1. Bị cáo có vợ là Trương Thị Diễm H2 và có 02 con, con lớn sinh năm 2018 và con nhỏ sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại – Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Phạm Nguyễn Quốc B
  2. Địa chỉ: Thôn B, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

  3. Ông Nguyễn Lê Hữu T
  4. Địa chỉ: Hẻm E T, TDP C, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

  1. Phạm Anh T1
  2. Địa chỉ: C L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

  3. Ông Phạm Tiến D
  4. Địa chỉ: Thôn D, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

  5. Ông Lê Thanh H3
  6. Địa chỉ: TDP A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng đầu năm 2024, do gặp khó khăn trong công việc làm ăn, nên Võ Lê Quang H đã nảy sinh ý định cho người khác vay tiền với lãi suất cao để nhằm thu lợi bất chính. Vì lúc này H đang làm nghề tài xế lái xe taxi, nên H biết một số người cùng làm nghề tài xế lái xe taxi có nhu cầu vay tiền, do đó H đã cho một số đồng nghiệp và một số người dân tại thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vay tiền với lãi suất cao, bằng hình thức cho vay tiền trả lãi hàng tháng (tiền đứng) hoặc trả tiền lãi hàng ngày (tiền góp). Khi khách có nhu cầu vay thì sẽ liên hệ với H bằng số điện thoại 0931.247.xxx và 0857584747 hoặc nhắn tin qua ứng dụng Zalo tên “Hảo Hảo” của số điện thoại 0857.584.xxx. Sau khi thống nhất số tiền và lãi suất thì H sẽ sử dụng tài khoản số 66366466566666 Ngân hàng M1, mang tên Võ Lê Quang H để chuyển tiền cho người vay và nhận tiền lãi từ người vay. Về cách thức, số tiền, lãi suất cho vay H quy định như sau: Đối với tiền góp nếu khách vay số tiền 5.400.000 đồng, thì sẽ trả góp trong vòng 30 ngày, mỗi ngày 200.000 đồng tiền gốc và lãi, khi người vay đóng đủ tiền thì H sẽ thu được 6.000.000 đồng, trong đó 5.400.000 đồng tiền gốc và 600.000 đồng tiền lãi. Tùy theo người vay và số tiền vay thì H sẽ tính tiền lãi khác nhau, trong đó lãi suất thấp nhất từ 135,19%/01 năm và lãi suất cao nhất là 187,18%/01 năm. Đối với tiền đứng thì cứ 30 ngày đóng tiền lãi một lần, lãi suất H4 quy định mỗi lần vay là 3.000 đồng/01 triệu đồng/01 ngày và H không thu phí khoản vay.

Từ tháng 01 năm 2024 đến tháng 10 năm 2024, Võ Lê Quang H đã trực tiếp cho 05 người vay tiền tại tỉnh Đắk Lắk, cụ thể như sau:

1. Anh Lê Thanh H3, sinh năm 1982, trú tại tổ dân phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vay 01 lần dưới hình thức vay tiền đứng: Ngày 29/01/2024, anh H3 vay số tiền 15.000.000 đồng với lãi suất 3.000đồng/01 triệu đồng/01 ngày. Khoản vay này H đã thu được 08 tháng (240 ngày) với tổng số tiền lãi là 10.800.000 đồng, vẫn nợ lại tiền gốc. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 1.972.603 đồng, nên H đã thu lợi bất chính số tiền: 10.800.000 đồng – 1.972.603 đồng = 8.827.397 đồng.

2. Anh Phạm Tiến D, sinh năm 1984, trú tại thôn A, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vay 01 lần dưới hình thức vay tiền đứng: Ngày 11/01/2024, anh D vay số tiền 40.000.000 đồng với lãi suất 3.000 đồng/01 triệu đồng/01 ngày. Khoản vay này H đã thu được 08 tháng (240 ngày) với tổng số tiền lãi là 28.800.000 đồng, vẫn nợ lại tiền gốc. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 5.260.274 đồng, nên H đã thu lợi bất chính số tiền: 28.800.000 đồng – 5.260.274 đồng = 23.539.726 đồng.

3. Anh Phạm Nguyễn Quốc B, sinh năm 1984, trú tại thôn B, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk: Vay 02 hình thức, cụ thể:

Khoản vay tiền đứng:

Lần 1: Ngày 25/6/2024, anh B vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất 3.000 đồng/01 triệu đồng/01 ngày. Khoản vay này H đã thu được 03 tháng (90 ngày) với tổng số tiền lãi là 2.700.000 đồng, vẫn nợ lại tiền gốc. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 493.151 đồng, nên H đã thu lợi bất chính số tiền: 2.700.000 đồng – 493.151 đồng = 2.206.849 đồng.

Lần 2: Ngày 01/8/2024, anh B vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất 3.000 đồng/01 triệu đồng/01 ngày. Khoản vay này H đã thu được 02 tháng (60 ngày) với tổng số tiền lãi là 1.800.000 đồng, vẫn nợ lại tiền gốc. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 328.767 đồng, nên H đã thu lợi bất chính số tiền: 1.800.000 đồng – 328.767 đồng = 1.471.233 đồng.

Lần 3: Ngày 02/8/2024, anh B vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất 3.000 đồng/01 triệu đồng/01 ngày. Khoản vay này H đã thu được 02 tháng (60 ngày) với tổng số tiền lãi là 1.800.000 đồng, vẫn nợ lại tiền gốc. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 328.767 đồng, nên H đã thu lợi bất chính số tiền: 1.800.000 đồng – 328.767 đồng = 1.471.233 đồng.

Khoản vay tiền góp:

Lần 1: Ngày 25/7/2024, anh B vay số tiền 5.400.000 đồng, trả trong vòng 30 ngày, mỗi ngày trả 200.000 đồng gồm tiền gốc và lãi, khi trả xong thành 6.000.000 đồng. Khoản vay này H4 đã thu xong cả gốc và lãi với tổng số tiền là 6.000.000 đồng, trong đó 5.400.000 đồng tiền gốc và 600.000 đồng tiền lãi, lãi suất cao nhất theo quy định của nhà nước là 88.767 đồng, H thu lợi bất chính số tiền 600.000 đồng – 88.767 đồng = 511.233 đồng.

Lần 2: Ngày 25/8/2024, anh B vay số tiền 5.400.000 đồng, trả trong vòng 30 ngày, mỗi ngày trả 200.000 đồng gồm tiền gốc và lãi, khi trả xong thành 6.000.000 đồng. Khoản vay này H đã thu xong cả gốc và lãi với tổng số tiền là 6.000.000 đồng, trong đó 5.400.000 đồng tiền gốc và 600.000 đồng tiền lãi, lãi suất cao nhất theo quy định của nhà nước là 88.767 đồng, H thu lợi bất chính số tiền 600.000 đồng – 88.767 đồng = 511.233 đồng.

Lần 3: Ngày 25/9/2024, anh B vay số tiền 5.400.000 đồng, trả trong vòng 30 ngày, mỗi ngày trả 200.000 đồng gồm tiền gốc và lãi, khi trả xong thành 6.000.000 đồng. Khoản vay này H đã thu được 20 ngày tiền gốc và lãi với tổng số tiền là 4.000.000 đồng, trong đó 3.600.000 đồng tiền gốc và 400.000 đồng tiền lãi, lãi suất cao nhất theo quy định của nhà nước là 59.178 đồng, H thu lợi bất chính số tiền 400.000 đồng – 59.178 đồng = 340.8224 đồng.

Như vậy, tổng số tiền mà H đã cho anh B vay là 46.200.000 đồng, tổng số tiền lãi đã thu là 7.900.000 đồng, tổng số tiền lãi cao nhất theo quy định của nhà nước là 1.387.397 đồng. Vậy, tổng số tiền mà H đã thu lợi bất chính của anh B là 7.900.000 đồng – 1.387.397 đồng = 6.512.603 đồng.

4. Anh Phạm Anh T1, sinh năm 1995, trú tại số E đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vay 02 hình thức, cụ thể:

Hình thức vay tiền đứng: Ngày 15/01/2024, anh T1 vay số tiền 5.000.000 đồng, với lãi suất 3000 đồng/01 triệu đồng/01 ngày. Khoản vay này H đã thu được 09 tháng (270 ngày) tiền lãi với tổng số tiền là 4.050.000 đồng, còn nợ lại tiền gốc. Lãi suất cao nhất theo quy định của Nhà nước là 739.726 đồng, nên H đã thu lợi bất chính số tiền: 4.050.000 đồng – 739.726 đồng = 3.310.274 đồng.

Hình thức vay tiền góp:

Lần 1: Tháng 7/2024, anh T1 vay số tiền 2.600.000 đồng, trả trong vòng 30 ngày, mỗi ngày trả 100.000 đồng gồm tiền gốc và lãi, khi trả xong thành 3.000.000 đồng. Khoản vay này H đã thu xong cả gốc và lãi với tổng số tiền là 3.000.000 đồng, trong đó 2.600.000 đồng tiền gốc và 400.000 đồng tiền lãi, lãi suất cao nhất theo quy định của nhà nước là 42.740 đồng, H thu lợi bất chính số tiền 400.000 đồng – 42.740 đồng = 357.260 đồng.

Lần 2: Tháng 9/2024, anh T1 vay số tiền 2.600.000 đồng, trả trong vòng 30 ngày, mỗi ngày trả 100.000 đồng gồm tiền gốc và lãi, khi trả xong thành 3.000.000 đồng. Khoản vay này H đã thu xong cả gốc và lãi với tổng số tiền là 3.000.000 đồng, trong đó 2.600.000 đồng tiền gốc và 400.000 đồng tiền lãi, lãi suất cao nhất theo quy định của nhà nước là 42.740 đồng, H thu lợi bất chính số tiền 400.000 đồng – 42.740 đồng = 357.260 đồng.

Lần 3: Ngày 01/10/2024, anh T1 vay số tiền 2.600.000 đồng, trả trong vòng 30 ngày, mỗi ngày trả 100.000 đồng gồm tiền gốc và lãi, khi trả xong thành 3.000.000 đồng. Khoản vay này H đã thu được 22 ngày tiền gốc và lãi với tổng số tiền là 2.200.000 đồng, trong đó 1.906.667 đồng tiền gốc và 293.333 đồng tiền lãi, lãi suất cao nhất theo quy định của nhà nước là 31.342 đồng, H thu lợi bất chính số tiền 293.333 đồng – 31.342 đồng = 261.991 đồng.

Như vậy, tổng số tiền mà H đã cho anh T1 vay là 12.800.000 đồng, tổng số tiền lãi đã thu là 5.143.333 đồng, tổng số tiền lãi cao nhất theo quy định của nhà nước là 856.548 đồng. Vậy, tổng số tiền mà H đã thu lợi bất chính của anh T1 là 5.143.333 đồng – 856.548 đồng = 4.286.785 đồng.

5. Anh Nguyễn Lê Hữu T, sinh năm 1996, trú tại số E đường T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; vay 03 lần tiền góp, cụ thể:

Lần 1: Ngày 16/8/2024, anh T vay số tiền 5.400.000 đồng, trả trong vòng 30 ngày, mỗi ngày trả 200.000 đồng gồm tiền gốc và lãi, khi trả xong thành 6.000.000 đồng. Khoản vay này H đã thu xong cả gốc và lãi với tổng số tiền là 6.000.000 đồng, trong đó 5.400.000 đồng tiền gốc và 600.000 đồng tiền lãi, lãi suất cao nhất theo quy định của nhà nước là 88.767 đồng, H thu lợi bất chính số tiền 600.000 đồng – 88.767 đồng = 511.233 đồng.

Lần 2: Ngày 16/9/2024, anh T vay số tiền 5.400.000 đồng, trả trong vòng 30 ngày, mỗi ngày trả 200.000 đồng gồm tiền gốc và lãi, khi trả xong thành 6.000.000 đồng. Khoản vay này H đã thu xong cả gốc và lãi với tổng số tiền là 6.000.000 đồng, trong đó 5.400.000 đồng tiền gốc và 600.000 đồng tiền lãi, lãi suất cao nhất theo quy định của nhà nước là 88.767 đồng, H thu lợi bất chính số tiền 600.000 đồng – 88.767 đồng = 511.233 đồng.

Lần 3: Ngày 16/10/2024, anh T vay số tiền 5.400.000 đồng, trả trong vòng 30 ngày, mỗi ngày trả 200.000 đồng gồm tiền gốc và lãi, khi trả xong thành 6.000.000 đồng. Khoản vay này H đã thu được 10 ngày tiền gốc và lãi với tổng số tiền là 2.000.000 đồng, trong đó 1.800.000 đồng tiền gốc và 200.000 đồng tiền lãi, lãi suất cao nhất theo quy định của nhà nước là 29.589 đồng, H thu lợi bất chính số tiền 200.000 đồng – 29.589 đồng = 170.411 đồng.

Như vậy, tổng số tiền mà H đã cho anh T vay là 16.200.000 đồng, tổng số tiền lãi đã thu là 1.400.000 đồng, tổng số tiền lãi cao nhất theo quy định của nhà nước là 207.123 đồng. Vậy, tổng số tiền mà H đã thu lợi bất chính của anh T là 1.400.000 đồng – 207.123 đồng = 1.192.877 đồng.

Như vậy, Võ Lê Quang H đã cho 05 người vay tiền với tổng số tiền cho vay là 130.200.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu hai trăm ngàn đồng), tổng số tiền lãi đã thu là 54.043.333 đồng (Năm mươi bốn triệu không trăm bốn mươi ba ngàn ba trăm ba mươi ba đồng), mức lãi suất cho vay từ 109,5%/01 năm đến 187,18%/01 năm. Tổng số tiền lãi suất cao nhất theo quy định nhà nước là 9.683.945 đồng (Chín triệu sáu trăm tám mươi ba ngàn chín trăm bốn mươi lăm đồng), tổng số tiền thu lợi bất chính là 44.359.388 đồng (Bốn mươi bốn triệu ba trăm năm mươi chín ngàn ba trăm tám mươi tám đồng)

Tại bản cáo trạng số: 95/CT-VKS –BMT ngày 11/3/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, đã truy tố Võ Lê Quang H về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Võ Lê Quang H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột đã luận tội, phân tích, chứng minh các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Võ Lê Quang H phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

  • Áp dụng khoản 1 Điều 201; Điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự;
  • Đề nghị xử phạt bị cáo Võ Lê Quang H 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 750, trả lại các đồ vật, tài liệu cho các chủ sở hữu hợp pháp nhận quản lý, sử dụng, gồm: 01 (một) Căn cước công dân số: [...] mang tên: Lê Trúc H5, 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe số 123544, biển kiểm soát 47B2–659.34, chủ xe Dương Đức T2 cho anh Lê Trúc H5, sinh năm 1985, trú tại tổ dân phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên: Lê Trung K cho anh Lê Trung K, sinh năm 2001, trú tại thôn H, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone13 ProMax, màu xanh dương; số IMEI: 359978125634034; gắn Esim Vinaphone số: 0857.584.xxx; số IMEI 2: 359978125668750, gắn thẻ sim Mobiphone 0931.247.xxx, số seri: 8401171050339278OT, thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo Võ Lê Quang H. Bị cáo H đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, nên đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với 20 (hai mươi) tờ M giấy mượn tiền, là vật chứng của vụ án, nên đề nghị tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Đề nghị truy thu số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo Võ Lê Quang H đã thu từ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (người vay tiền) để trả lại tiền cho những người vay tiền, cụ thể:

  1. Trả lại cho anh Lê Thanh H3 số tiền 8.827.397 đồng (Tám triệu tám trăm hai mươi bảy ngàn ba trăm chín mươi bảy đồng).
  2. Trả lại cho anh Phạm Tiến D số tiền 23.539.726 đồng (Hai mươi ba triệu năm trăm ba mươi chín ngàn bảy trăm hai mươi sáu đồng).
  3. Trả cho anh Nguyễn Quốc B số tiền 6.512.603 đồng (Sáu triệu năm trăm mười hai ngàn sáu trăm lẻ ba đồng).
  4. Trả cho anh Phạm Anh T1 số tiền 4.286.785 đồng (Bốn triệu hai trăm tám mươi sáu ngàn bảy trăm tám mươi lăm đồng).
  5. Trả cho anh Nguyễn Lê Hữu T số tiền 1.192.877 đồng (Một triệu một trăm chín mươi hai ngàn tám trăm bảy mươi bảy đồng).

Đối với số tiền 34.106.667 đồng (Ba mươi bốn triệu một trăm lẻ sáu ngàn sáu trăm sáu mươi bảy đồng), là số tiền gốc mà bị cáo Võ Lê Quang H cho vay đã được các người vay trả lại và số tiền 9.683.945 đồng (Chín triệu sáu trăm tám mươi ba ngàn chín trăm bốn mươi lăm đồng), là tiền lãi theo quy định (lãi suất 20%), nên đề nghị truy thu để sung công quỹ nhà nước từ bị cáo Võ Lê Quang H, để nộp sung ngân sách Nhà nước, mà bị cáo Võ Lê Quang H đã hưởng lợi từ hoạt động cho vay.

Buộc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải nộp lại số tiền 96.093.000 đồng (Chín mươi sáu triệu không trăm chín mươi ba ngàn đồng), là số tiền nợ gốc đã vay chưa trả cho bị cáo Võ Lê Quang H để nộp sung ngân sách Nhà nước, cụ thể như sau:

  1. Anh Lê Thanh H3 nộp lại số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
  2. Anh Phạm Tiến D nộp lại số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng đồng).
  3. Anh Nguyễn Quốc B nộp lại số tiền 31.800.000 đồng (Ba mươi mốt triệu tám trăm ngàn đồng).
  4. Anh Phạm Anh T1 nộp lại số tiền 5.693.000 đồng (Năm triệu sáu trăm chín mươi ba ngàn đồng).
  5. Anh Nguyễn Lê Hữu T nộp lại số tiền 3.600.000 đồng (Ba triệu sáu trăm ngàn đồng).

Tại phiên tòa bị cáo Võ Lê Quang H không bào chữa tranh luận gì, chỉ đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, của Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo như sau: Từ tháng 01 năm 2024 đến tháng 10 năm 2024, tại thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, Võ Lê Quang H đã cho 05 người vay tiền với lãi suất cao với tổng số tiền cho vay 130.200.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu hai trăm ngàn đồng), tổng số tiền lãi đã thu là 54.043.333 đồng (Năm mươi bốn triệu không trăm bốn mươi ba ngàn ba trăm ba mươi ba đồng), mức lãi suất cho vay từ 109,5%/01 năm đến 187,18%/01 năm. Tổng số tiền lãi suất cao nhất theo quy định nhà nước là 9.683.945 đồng (Chín triệu sáu trăm tám mươi ba ngàn chín trăm bốn mươi lăm đồng). Tổng số tiền thu lợi bất chính là 44.359.388 đồng (Bốn mươi bốn triệu ba trăm năm mươi chín ngàn ba trăm tám mươi tám đồng), thì bị phát hiện xử lý.

Do đó bị cáo Võ Lê Quang H đã phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo Võ Lê Quang H theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 201 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.”

Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quản lý nhà nước trong hoạt động tín dụng mà còn mang tính chất bóc lột, gây bất bình trong quần chúng nhân dân nên cần áp dụng mức hình phạt phù hợp tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục riêng đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong đời sống xã hội về loại tội phạm này.

[2.2] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Hội đồng xét xử xét thấy, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo cũng đủ răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

[2.3] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Chấp nhận cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 750, trả lại các đồ vật, tài liệu cho các chủ sở hữu hợp pháp nhận quản lý, sử dụng, gồm: 01 (một) Căn cước công dân số: [...] mang tên: Lê Trúc H5, 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe số 123544, biển kiểm soát 47B2–659.34, chủ xe Dương Đức T2 cho anh Lê Trúc H5, sinh năm 1985, trú tại tổ dân phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên: Lê Trung K cho anh Lê Trung K, sinh năm 2001, trú tại thôn H, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone13 ProMax, màu xanh dương; số IMEI: 359978125634034; gắn Esim Vinaphone số: 0857.584.xxx; số IMEI 2: 359978125668750, gắn thẻ sim Mobiphone 0931.247.xxx, số seri: 8401171050339278OT, thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo Võ Lê Quang H.

Đối với 20 (hai mươi) tờ M giấy mượn tiền, là vật chứng của vụ án, nên đề nghị tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[2.4] Về trách nhiệm dân sự:

– Truy thu số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo Võ Lê Quang H đã thu từ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (người vay tiền) để trả lại tiền cho những người vay tiền, cụ thể:

  1. Trả lại cho anh Lê Thanh H3 số tiền 8.827.397 đồng (Tám triệu tám trăm hai mươi bảy ngàn ba trăm chín mươi bảy đồng).
  2. Trả lại cho anh Phạm Tiến D số tiền 23.539.726 đồng (Hai mươi ba triệu năm trăm ba mươi chín ngàn bảy trăm hai mươi sáu đồng).
  3. Trả cho anh Nguyễn Quốc B số tiền 6.512.603 đồng (Sáu triệu năm trăm mười hai ngàn sáu trăm lẻ ba đồng).
  4. Trả cho anh Phạm Anh T1 số tiền 4.286.785 đồng (Bốn triệu hai trăm tám mươi sáu ngàn bảy trăm tám mươi lăm đồng).
  5. Trả cho anh Nguyễn Lê Hữu T số tiền 1.192.877 đồng (Một triệu một trăm chín mươi hai ngàn tám trăm bảy mươi bảy đồng).

– Đối với số tiền 34.106.667 đồng (Ba mươi bốn triệu một trăm lẻ sáu ngàn sáu trăm sáu mươi bảy đồng), là số tiền gốc mà bị cáo Võ Lê Quang H cho vay đã được các người vay trả lại và số tiền 9.683.945 đồng (Chín triệu sáu trăm tám mươi ba ngàn chín trăm bốn mươi lăm đồng), là tiền lãi theo quy định (lãi suất 20%), nên đề nghị truy thu để sung công quỹ nhà nước từ bị cáo Võ Lê Quang H, để nộp sung ngân sách Nhà nước, mà bị cáo Võ Lê Quang H đã hưởng lợi từ hoạt động cho vay.

– Buộc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải nộp lại số tiền 96.093.000 đồng (Chín mươi sáu triệu không trăm chín mươi ba ngàn đồng), là số tiền nợ gốc đã vay chưa trả cho bị cáo Võ Lê Quang H để nộp sung ngân sách Nhà nước, cụ thể như sau:

  1. Anh Lê Thanh H3 nộp lại số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
  2. Anh Phạm Tiến D nộp lại số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng đồng).
  3. Anh Nguyễn Quốc B nộp lại số tiền 31.800.000 đồng (Ba mươi mốt triệu tám trăm ngàn đồng).
  4. Anh Phạm Anh T1 nộp lại số tiền 5.693.000 đồng (Năm triệu sáu trăm chín mươi ba ngàn đồng).
  5. Anh Nguyễn Lê Hữu T nộp lại số tiền 3.600.000 đồng (Ba triệu sáu trăm ngàn đồng).

[2.5] Về án phí: Bị cáo Võ Lê Quang H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền trả lại. Cụ thể: 44.359.388 đồng x 5% = 2.218.000 đồng (làm tròn)

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Võ Lê Quang H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Căn cứ khoản 1 Điều 201; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Võ Lê Quang H 60.000.000 đồng. (Sáu mươi triệu đồng)

* Về xử lý vật chứng và dân sự: Áp dụng các Điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự

Chấp nhận cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại các đồ vật, tài liệu cho các chủ sở hữu hợp pháp nhận quản lý, sử dụng, gồm: 01 (một) Căn cước công dân số: [...] mang tên: Lê Trúc H5, 01 (một) Chứng nhận đăng ký xe số 123544, biển kiểm soát 47B2-659.34, chủ xe Dương Đức T2 cho anh Lê Trúc H5, sinh năm 1985, trú tại tổ dân phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên: Lê Trung K cho anh Lê Trung K, sinh năm 2001, trú tại thôn H, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone13 ProMax, màu xanh dương; số IMEI: 359978125634034; gắn Esim Vinaphone số: 0857.584.xxx; số IMEI 2: 359978125668750, gắn thẻ sim Mobiphone 0931.247.xxx, số seri: 8401171050339278OT, thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo Võ Lê Quang H.

Đối với 20 (hai mươi) tờ M giấy mượn tiền, là vật chứng của vụ án, nên đề nghị tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

* Về trách nhiệm dân sự:

– Truy thu của bị cáo Võ Lê Quang H số tiền 44.359.388 đồng là số tiền thu lợi bất chính mà bị cáo Võ Lê Quang H đã thu từ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (người vay tiền) để trả lại tiền cho những người vay tiền, cụ thể:

  1. Trả lại cho anh Lê Thanh H3 số tiền 8.827.397 đồng (Tám triệu tám trăm hai mươi bảy ngàn ba trăm chín mươi bảy đồng).
  2. Trả lại cho anh Phạm Tiến D số tiền 23.539.726 đồng (Hai mươi ba triệu năm trăm ba mươi chín ngàn bảy trăm hai mươi sáu đồng).
  3. Trả cho anh Nguyễn Quốc B số tiền 6.512.603 đồng (Sáu triệu năm trăm mười hai ngàn sáu trăm lẻ ba đồng).
  4. Trả cho anh Phạm Anh T1 số tiền 4.286.785 đồng (Bốn triệu hai trăm tám mươi sáu ngàn bảy trăm tám mươi lăm đồng).
  5. Trả cho anh Nguyễn Lê Hữu T số tiền 1.192.877 đồng (Một triệu một trăm chín mươi hai ngàn tám trăm bảy mươi bảy đồng).

– Truy thu Võ Lê Quang H nộp sung ngân sách nhà nước: Đối với số tiền 34.106.667 đồng (Ba mươi bốn triệu một trăm lẻ sáu ngàn sáu trăm sáu mươi bảy đồng), là số tiền gốc mà bị cáo Võ Lê Quang H cho vay đã được các người vay trả lại và số tiền 9.683.945 đồng (Chín triệu sáu trăm tám mươi ba ngàn chín trăm bốn mươi lăm đồng), là tiền lãi theo quy định (lãi suất 20%).

– Buộc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải nộp lại số tiền 96.093.000 đồng (Chín mươi sáu triệu không trăm chín mươi ba ngàn đồng), là số tiền nợ gốc đã vay chưa trả cho bị cáo Võ Lê Quang H để nộp sung ngân sách Nhà nước, cụ thể như sau:

  1. Anh Lê Thanh H3 nộp lại số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
  2. Anh Phạm Tiến D nộp lại số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng đồng).
  3. Anh Nguyễn Quốc B nộp lại số tiền 31.800.000 đồng (Ba mươi mốt triệu tám trăm ngàn đồng).
  4. Anh Phạm Anh T1 nộp lại số tiền 5.693.000 đồng (Năm triệu sáu trăm chín mươi ba ngàn đồng).
  5. Anh Nguyễn Lê Hữu T nộp lại số tiền 3.600.000 đồng (Ba triệu sáu trăm ngàn đồng).

*Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Bị cáo Võ Lê Quang H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.218.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm ngày) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • – Vụ GĐKT 1 – TANDTC;
  • – TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • – VKSND TP. Buôn Ma Thuột;
  • – Công an Tỉnh Đắk Lắk;
  • – Thi hành án phạt tù (để thi hành);
  • – Chi cục THADS TP. Buôn Ma Thuột;
  • – Phân trại tạm giam khu vực thành phố Buôn Ma Thuột;
  • – Bị cáo, các đương sự;
  • – Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. Hội đồng xét xử sơ thẩm

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Kim Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2025/HS – ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 97/2025/HS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Lê Quan H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger