Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2025/HNGĐ-ST

Ngày 06-3-2025

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi

con chung khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Kim Hồng và bà Ngô Thị Thơm.

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Bích Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 562/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2024, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1986.
  2. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Số nhà F thôn T, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Hiện đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản.

  3. Bị đơn: Anh Hồ Văn T, sinh ngày 09/10/1979.
  4. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn T, xã G, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Hiện đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản.

    ( chị L và anh T đều vắng mặt tại phiên toà)

  5. Người được chị Nguyễn Thị L ủy quyền về việc giao nhận văn bản tố tụng: Ông Lê Duy B, sinh năm 1977. Địa chỉ: Tổ dân phố E, thị tấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hồ Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện M'Đrăk, tỉnh Đăk Lăk vào ngày 18/6/2007. Vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính cách vợ chồng không hòa hợp khiến trong cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra tranh cãi, căng thẳng. Năm 2015 chị L xuất cảnh sang Nhật Bản theo diện du học, vừa học vừa làm. Khi công việc ổn định chị đã bảo lãnh cho anh T sang cùng chị, nhưng vợ chồng vẫn không có hạnh phúc. Bản thân chị đã tìm nhiều biện pháp khắc phục, gia đình hai bên cũng đã khuyên bảo nhiều nhưng tình trạng vợ chồng vẫn không được cải thiện. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh chị đã sống ly thân từ năm 2023 và không còn quan tâm đến nhau nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Hồ Văn T.

Về con chung: Vợ chồng chị có 03 con chung là Hồ Văn T1, sinh ngày 29/3/2008, Hồ Thị Như Ý, sinh ngày 30/11/2009 và Hồ Thị Nhật M, sinh ngày 20/01/2022. Do hiện nay cháu T1 đang ở cùng với anh T, còn cháu Như Ý và cháu M đang ở cùng với chị, nên để đảm bảo sự ổn định trong việc chăm sóc con chung chị L đề nghị được nuôi dưỡng con Hồ Thị Như Ý và Hồ Thị Nhật M. Đối với con Hồ Văn T1 đề nghị Tòa án giao cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Con chung Hồ Văn T1, Hồ Thị Như Ý có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn.

Tại lời khai của ông Hồ Văn C và bà Tăng Thị L1 (bố mẹ đẻ của anh Hồ Văn T) thể hiện: Anh T hiện đang sinh sống tại Nhật Bản, địa chỉ cụ thể của anh T thì ông bà không biết, nhưng anh T thường xuyên liên lạc qua điện thoại với gia đình. Ông bà đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh T biết. Ông bà cho biết, Chị L và anh T đăng ký kết hôn và sinh sống tại tỉnh Đăk Lăk. Thời gian sau này, anh chị chuyển về chung sống cùng gia đình ông bà. Cuối năm 2015 ông bà lo chi phí, thủ tục cho chị L đi Nhật Bản, năm 2018 chị L đã bảo lãnh cho anh T sang cùng. Kể từ thời điểm đón các con sang cùng, chị L cắt đứt liên lạc với ông bà. Ông bà có liên hệ và hỏi cháu Thế T2 được biết mặc dù cùng ở nước ngoài nhưng vợ chồng đã sống ly thân, mỗi người ở một nơi. Nay chị L có đơn ly hôn, ông bà mong muốn anh chị bỏ qua mâu thuẫn để cùng nuôi dạy con chung. Trường hợp chị L vẫn kiên quyết xin ly hôn thì đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định pháp luật để giải quyết.

Anh T không gửi văn bản thể hiện quan điểm về việc giải quyết vụ án nhưng có trao đổi với ông bà qua điện thoại. Anh T xác định trong cuộc sống vợ chồng đã có mâu thuẫn, anh mong muốn thời gian lâu dần chị L sẽ suy nghĩ lại nên anh không đồng ý ly hôn. Về con chung: Anh T xác định anh chị có ba con chung như chị L đã trình bày, do không đồng ý ly hôn nên anh không đưa ra quan điểm về việc giải quyết con chung. Trường hợp chị L vẫn kiên quyết thì anh đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tòa án xác minh tại địa phương nơi các đương sự đăng ký kết hôn và sinh sống thể hiện: Chị Nguyễn Thị L và anh Hồ Văn T kết hôn hợp pháp. Sau quá trình làm ăn, sinh sống tại Đ thì anh chị chuyển về chung sống cùng gia đình anh T. Thời gian sau này anh chị sang lao động tại Nhật Bản do vậy khu dân cư không nắm được cụ thể cuộc sống chung của anh chị. Nay chị L có đơn đề nghị giải quyết ly hôn, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn giấu địa chỉ, không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử cho chị Nguyễn Thị L ly hôn anh Hồ Văn T. Về con chung: Giao con chung là Hồ Thị Như Ý, sinh ngày 30/11/2009 và Hồ Thị Nhật M, sinh ngày 20/01/2022 cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao con chung Hồ Văn T1, sinh ngày 29/3/2008 cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị L và anh Hồ Văn T có nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh tại thôn T, xã G, thành phố H, tỉnh Hải Dương, hiện nay cả 2 anh chị đều đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Trong quá trình giải quyết vụ án, chị L và gia đình anh T không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh T ở nước ngoài. Theo quy định tại Điều 10 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án đã nhiều lần yêu cầu gia đình anh T cung cấp địa chỉ, nhưng gia đình không cung cấp được. Toà án cũng đã giao các văn bản tố tụng cho anh T thông qua gia đình, đồng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, anh T vắng mặt lần thứ hai không có lý do, chị L có quan điểm đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]Về nội dung:

[2.1]Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Hồ Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện M'Đrăk, tỉnh Đăk Lăk ngày 18/6/2007, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, anh chị có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, không có sự tin tưởng nhau. Nay chị L có quan điểm xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Toà án cho chị được ly hôn anh T. Mặc dù anh T không có văn bản trình bày quan điểm gửi Toà án, nhưng thông qua gia đình anh T cũng xác định vợ chồng có mâu thuẫn, tuy nhiên anh không đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử thấy, anh T không đồng ý ly hôn nhưng anh không đưa ra được biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Thực tế anh chị đã sống ly thân, mỗi người ở một nơi và không còn quan tâm đến nhau. Do vậy có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị L và anh Hồ Văn T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L.

[2.2] Về con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Hồ Văn T có 03 con chung là Hồ Văn T1, sinh ngày 29/3/2008, Hồ Thị Như Ý, sinh ngày 30/11/2009 và Hồ Thị Nhật M, sinh ngày 20/01/2022. Mặc dù cháu T1, cháu Ý thể hiện nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn, nhưng hiện cháu T1 đang ở cùng với anh T. Chị L cũng có quan điểm để anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1, còn chị chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Ý, cháu M. Do vậy để ổn định cuộc sống cũng như đảm bảo trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung, cần tiếp tục giao cháu Ý, cháu M cho chị L nuôi dưỡng, giao cháu T1 cho anh T nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho nhau là phù hợp.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 51; 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a, Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị L ly hôn anh Hồ Văn T.
  2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Hồ Thị Như Ý, sinh ngày 30/11/2009 và Hồ Thị Nhật M, sinh ngày 20/01/2022 cho đến khi các con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Giao cho anh Hồ Văn T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Hồ Văn T1, sinh ngày 29/3/2008 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho nhau.
  3. Anh Hồ Văn T, chị Nguyễn Thị L được quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được đối trừ số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005285 ngày 30 tháng 10 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Chị L đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị L, anh Hồ Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã Eapil, huyện M'đrăk, tỉnh Đăk Lăk (để ghi sổ hộ tịch);
  • - Lưu hồ sơ, VP, Tòa GĐ&NCTN

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2025/HNGĐ-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn

  • Số bản án: 97/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger