|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 97/2025/DS-PT
Ngày 25-02-2025
V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc và yêu
cầu hủy hợp đồng ủy quyền
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huỳnh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Tùng
Ông Lê Sỹ Trứ
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Trung Kiên – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 592/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 153/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 31/2025/QĐ-PT ngày 09/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1962; địa chỉ: số A đường T, khu C, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Ông Huỳnh Minh H, sinh năm 1987; địa chỉ: ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; địa chỉ liên hệ: ấp T, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hậu Giang, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 02/12/2022); có mặt. -
Bị đơn: Ông Nguyễn Anh T, sinh năm 1993; địa chỉ: tổ I, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Ông Võ Ngọc R, sinh năm 1995; địa chỉ: tổ dân phố E, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ liên hệ: số A N, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 17/02/2023); có mặt. -
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Ông Nguyễn Minh L, sinh năm 1988; địa chỉ: tổ B, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Bà Phan Hồng N, sinh năm 2000 và ông Lê Ngọc M, sinh năm 2002; cùng địa chỉ liên lạc: số C, đường C, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 07/8/2024); có mặt. - Văn phòng C (nay là Văn phòng C); địa chỉ: số A Đại lộ B, khu phố D, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
-
Ông Nguyễn Minh L, sinh năm 1988; địa chỉ: tổ B, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo Đơn khởi kiện ngày 02/12/2022, ngày 26/12/2022, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn là ông Huỳnh Minh H trình bày:
Ông Nguyễn Anh T có quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 726, tờ bản đồ số 12, ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương do Ủy ban nhân dân huyện P cấp ngày 15/3/2012 cho ông Đỗ Văn D, cập nhật thay đổi lần cuối ngày 20/5/2019 cho ông Nguyễn Anh T.
Ông Nguyễn Văn S có nhu cầu nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên đã liên hệ để ông T và ông L cùng nhau dẫn ông S đi xem đất tại diện tích đất trên. Đồng thời, ông S được ông L cho xem hình ảnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên điện thoại của ông L vì ông T nói quyền sử dụng đất trên đang thế chấp tại Ngân hàng.
Ngày 10/4/2021, ông Nguyễn Minh L và ông Nguyễn Minh S1 ký kết hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Theo đó, hai bên thỏa thuận giá chuyển nhượng là 7.500.000.000 đồng và ông S1 đã giao trực tiếp bằng tiền mặt cho ông L số tiền đặt cọc là 3.500.000.000 đồng. Khi đưa tiền chỉ có ông S1 và ông L, đồng thời hẹn ngày 10/5/2021 sẽ tiến hành thủ tục chuyển nhượng tại văn phòng công chứng.
Trước khi ký hợp đồng đặt cọc thì ông Nguyễn Văn S không lên UBND xã P tìm hiểu nguồn gốc đất nhưng đã được đọc nội dung của Hợp đồng ủy quyền ngày 30/3/2021 giữa ông Nguyễn Anh T và ông Nguyễn Minh L nên ông Nguyễn Văn S đã làm việc trực tiếp với cả ông T và ông L về việc sẽ nhận chuyển nhượng và ký hợp đồng đặt cọc với ông L.
Tuy nhiên, ngày 10/5/2021, ông T không đến làm thủ tục mà không cho ông S biết lý do. Đến khoảng tháng 7/2021, ông L đề nghị trả lại tiền đặt cọc cho ông S với lý do ông T nói không làm thủ tục chuyển nhượng được vì đất đang tranh chấp bằng một vụ án khác tại Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo và hẹn khi giải quyết xong sẽ chuyển nhượng cho ông S vào ngày 10/7/2021. Đến ngày hẹn thì vẫn chưa có kết quả nên ông T có liên hệ ông L hoàn trả lại cho ông S số tiền cọc 3.500.000.000 đồng. Ông S đã nhận lại tiền cọc là 3.500.000.000 đồng nhưng do ông T vi phạm cam kết về đất có tranh chấp có kê biên theo như thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc nên ông S khởi kiện ông T yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Yêu cầu Tòa án tuyên hủy Hợp đồng đặt cọc ngày 10 tháng 4 năm 2021 do bên bán vi phạm hợp đồng.
- Yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Anh T phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn S số tiền 35.000.000.000 đồng theo Hợp đồng đặt cọc tiền về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 10/4/2021 đối với quyền sử dụng đất với diện tích 7.864,7m² tại thửa đất số 726, tờ bản đồ số 12, theo địa chỉ thửa đất tại ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH 044379, số vào số CH00682 do UBND huyện P, tỉnh Bình Dương cấp ngày 13/8/2020.
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn: nguyên đơn không đồng ý vì ông S căn cứ việc ông Nguyễn Anh T đã ủy quyền cho ông Nguyễn Minh L nên mới ký kết hợp đồng đặt cọc và giao tiền đặt cọc cho ông L.
- Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của bị đơn là ông Võ Ngọc R trình bày:
Ông Nguyễn Anh T có quen biết với ông Nguyễn Minh L và qua đó ông T có vay của ông Nguyễn Minh L số tiền 2.800.000.000 đồng để phục vụ việc làm ăn kinh doanh của ông Nguyễn Anh T.
Ngày 30/3/2021, ông T và ông L có ra Ngân hàng P (P1) – Chi nhánh B, tại đây ông L đưa số tiền 2.600.000.000 đồng bằng tiền mặt để ông T trả nợ Ngân hàng và lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 726, tờ bản đồ số 12 tại ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Việc cho vay thì không có lập văn bản, hai bên chỉ thỏa thuận miệng, thỏa thuận lãi suất tạm thời là 200.000.000 đồng và không thỏa thuận thời hạn vay.
Để đảm bảo cho khoản vay này thì ông L có yêu cầu ông Nguyễn Anh T ký Hợp đồng ủy quyền số 003904 quyển số 03/2021 TP/CC SCC/HĐGD ngày 30/03/2021 tại Văn phòng Công chứng Sở Sao đối với thửa đất số 726 tờ bản đồ số 12 địa chỉ ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương với nội dung: “Bên A ủy quyền cho bên B nhân danh bên A thực hiện thủ tục xóa thế chấp. Sau khi hoàn tất việc cập nhật xóa thế chấp thì toàn quyền thay mặt bên A thực hiện việc nhận đặt cọc, chuyển nhượng, tặng cho (hoặc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng đặt cọc, chuyển nhượng, tặng cho), được quyết định giá chuyển nhượng và nhận tiền từ việc chuyển nhượng, cho thuê (hoặc sửa đổi, bổ sung, thanh lý hợp đồng cho thuê), thế chấp, thế chấp để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên thứ ba (sửa đổi, bổ sung, đăng ký thế chấp, làm thủ tục giải chấp), liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục cần thiết liên quan đến việc đo đạc, cập nhật biến động, điều chỉnh lại diện tích và xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếu mất), được nhận tiền đền bù giải tỏa khi có quyết định thu hồi đất, xin trích lục, trích đo địa chính, hợp thửa, tách thửa, xin xác nhận tình trạng bất động sản, xin chuyển mục đích sử dụng đất, ghi nợ, xóa nợ, gia hạn thời gian sử dụng đất, xác minh hiện trạng, vị trí thửa đất, định vị thổ cư, di dời vị trí thổ cư, thực hiện thủ tục xin phép xây dựng, xin cấp điện nước đối với quyền sử dụng đất nêu trên.
Trường hợp qua đo đạc thực tế diện tích thửa đất tăng hoặc giảm so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc các trường hợp phải cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đính chính biến động thông tin trên giấy chứng nhận thì bên B vẫn được đại diện bên A để thực hiện các công việc nêu trên (kể cả đối với phần diện tích tăng hơn so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên”. Đồng thời, sau khi làm thủ tục xóa thế chấp tại ngân hàng, ông Nguyễn Anh T có giao bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 726 cho ông L để làm tin và đảm bảo cho khoản vay của ông Nguyễn Anh T.
Sau đó, ông Nguyễn Minh L đã sử dụng hợp đồng ủy quyền này để giao dịch với ông Nguyễn Văn S (ông S là chú của ông L). Tuy nhiên, ông Nguyễn Anh T hoàn toàn không được biết gì về giao dịch này cho đến khi có giấy triệu tập của Tòa án lên làm việc vì liên quan đến vụ án.
Đối với các giao dịch giữa ông L và ông S thì ông Nguyễn Anh T hoàn toàn không biết, cũng như ông Nguyễn Anh T chưa từng gặp ông S hoặc có giao dịch gì với ông S. Việc ông L nhận tiền cọc và trả tiền cọc cho ông S là tự ông L giao dịch, ông T không hề được ông L thông báo.
Để có cơ sở cho Tòa án giải quyết vụ việc theo đúng quy định của pháp luật cũng như đảm bảo cho quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Anh T. Ông Nguyễn Anh T yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết yêu cầu sau: Yêu cầu Tòa án tuyên hủy Hợp đồng ủy quyền số 003904 quyển số 03/2021 TP/CC SCC/HĐGD tại Văn phòng C. Lý do đây là hợp đồng giả cách được lập ra giữa ông Nguyễn Anh T và ông Nguyễn Minh L nhằm đảm bảo cho khoản vay của ông Nguyễn Anh T.
- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh L là bà Phan Hồng N và ông Lê Ngọc M thống nhất trình bày:
Thời điểm tháng 3/2021, ông Nguyễn Anh T đang thế chấp thửa đất tại Ngân hàng P (P1) – Chi nhánh B nên để thuận tiện việc ông Nguyễn Anh T nhờ ông L bán thửa đất nêu trên để có tiền trả Ngân hàng thì hai bên ký kết hợp đồng ủy quyền để thuận tiện cho ông L làm thủ tục.
Ngày 30/3/2021, để ông T trả nợ Ngân hàng, ông L cùng đi với ông Nguyễn Anh T đến Ngân hàng P (P1) – Chi nhánh B, tại đây ông L có đưa tiền mặt với số tiền 3.200.000.000 đồng cho ông Nguyễn Anh T để ông T làm thủ tục trả nợ Ngân hàng và lấy lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Sau khi làm thủ tục tại Ngân hàng xong, cùng ngày 30/3/2021 ông L và ông T cùng đến Văn phòng C để ký hợp đồng ủy quyền để ông T ủy quyền cho ông L làm các thủ tục liên quan thửa đất số 726, tờ bản đồ số 12 tại ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Tại Văn phòng Công chứng Sở Sao, sau khi ký xong hợp đồng ủy quyền thì ông L có đưa cho ông Nguyễn Anh T số tiền 800.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền ông L đã đưa cho ông Nguyễn Anh T là 4.000.000.000 đồng để ông Nguyễn Anh T ủy quyền cho ông L toàn quyền thực hiện việc ký kết, chuyển nhượng liên quan đến thửa đất số 726, tờ bản đồ số 12 tại ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Việc ông L chuyển nhượng thửa đất nêu trên cho người khác với số tiền nhiều hơn 4.000.000.000 đồng thì số tiền chênh lệch đó sẽ là của ông L. Thông qua môi giới bất động sản thì ông Nguyễn Văn S liên hệ với ông L để được xem thửa đất.
Ông L cùng ông Nguyễn Anh T đã dẫn ông S đi xem đất và ông L có báo với ông T sẽ ký hợp đồng đặt cọc với ông S vào ngày 10/4/2021.
Thời điểm ký hợp đồng đặt cọc thì ông L có đưa bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bản chính Hợp đồng ủy quyền ngày 30/3/2021 cho ông Nguyễn Văn S xem. Sau khi xem giấy tờ đầy đủ và hợp lệ, ông Nguyễn Văn S giao cho ông L số tiền 3.500.000.000 đồng bằng tiền mặt tại thửa đất đất số 726, tờ bản đồ số 12 tại ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương.
Số tiền 4.000.000.000 đồng ông S giao trực tiếp bằng tiền mặt cho ông L tại thửa đất 726. Do ông S đã đưa 4.000.000.000 đồng cho ông T trước đó để ông T ký ủy quyền cho ông L toàn quyết quyết định mọi vấn đề liên quan thửa đất nên ông L không đưa tiền đã nhận cọc từ ông S cho ông T mà ông L giữ.
Sau khi ký hợp đồng đặt cọc, để hoàn thiện hồ sơ thì ông L làm thủ tục trích lục thửa đất 726, tuy nhiên, khi nộp hồ sơ tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P, ông L mới biết thửa đất 726 đã bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là “Phong tỏa tài sản” do Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo áp dụng để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của ông Nguyễn Anh T.
Do thửa đất 726 bị phong tỏa và không làm thủ tục trích lục được nên ông L đã liên hệ với ông Nguyễn Văn S để trả lại tiền cọc. Số tiền 3.500.000.000 đồng ông L trả lại tiền cọc cho ông S là tiền của cá nhân ông L, đồng thời ông L đã trả lại tiền cho ông Nguyễn Văn S bằng tiền mặt tại nhà của ông S ở đường T, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Việc đặt cọc thì chỉ có L và ông S giao tiền tại thửa đất 726. Còn ngày ông L trả tiền cọc tại nhà ông S thì có ông M chứng kiến việc ông L trả tiền cho ông S.
Do ông L đã giao cho ông Nguyễn Anh T tổng số tiền 4.000.000.000 đồng để thay mặt ông T ký kết hợp đồng đặt cọc với ông Nguyễn Văn S. Ông L cũng đã trả lại ông S số tiền đã nhận cọc là 3.500.000.000 đồng. Do đó, nếu ông S khởi kiện đòi phạt cọc thì ông Nguyễn Anh T phải chịu trách nhiệm trả tiền bồi thường cho ông S vì thời điểm ký đặt cọc thửa đất 726 đang bị phong tỏa là do lỗi của ông Nguyễn Anh T.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng Công chứng Sở Sao trình bày:
Đối với yêu cầu tuyên bố hủy Hợp đồng ủy quyền giữa ông Nguyễn Anh T và ông Nguyễn Minh L số 003904 quyển số 03/2021 TP/CC SCC/HĐGD ngày 30/03/2021 tại Văn phòng Công chứng Sở Sao, phía văn phòng công chứng có ý kiến như sau: Khi tiến hành công chứng các hợp đồng nêu trên phía văn phòng công chứng đã kiểm tra đầy đủ các giấy tờ liên quan, giải thích rõ quyền, lợi ích hợp pháp cũng như nghĩa vụ của các bên tham gia ký kết. Việc công chứng hoàn toàn đúng quy định pháp luật, đúng theo trình tự thủ tục quy định tại các Điều 40, 41 Luật Công chứng năm 2014. Đối với yêu cầu của phía bị đơn, văn phòng C không có ý kiến đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của bị đơn thay đổi yêu cầu phản tố, cụ thể: Yêu cầu Tòa án tuyên Hợp đồng ủy quyền số 003904 quyển số 03/2021 TP/CC SCC/HĐGD tại Văn phòng Công chứng Sở Sao vô hiệu do giả tạo.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 153/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
-
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S đối với bị đơn ông Nguyễn Anh T về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc.
Tuyên bố hợp đồng đặt cọc ngày 10/4/2021 được ký kết giữa ông Nguyễn Minh L và ông Nguyễn Văn S vô hiệu. - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn S đối với yêu cầu buộc ông Nguyễn Anh T phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn S số tiền 35.000.000.000 đồng.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Nguyễn Anh T về việc: Tuyên bố Hợp đồng ủy quyền số 003904 quyển số 03/2021 TP/CC SCC/HĐGD ngày 30/3/2021 tại Văn phòng Công chứng Sở Sao vô hiệu.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 09/10/2024, nguyên đơn ông Nguyễn Văn S kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Nguyên đơn kháng cáo và xuất trình chứng cứ là file ghi âm nhưng không đúng quy định pháp luật nên không có căn cứ xem xét. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là có căn cứ, đúng pháp luật. Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ mới làm thay đổi nội dung vụ án nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của nguyên đơn được nộp trong thời hạn, có nội dung, hình thức phù hợp với quy định của pháp luật nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Ngày 10/4/2021, giữa ông Nguyễn Văn S và ông Nguyễn Minh L có ký kết hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 726, tờ bản đồ số 12, ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương do Ủy ban nhân dân huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/3/2012 cho ông Đỗ Văn D, cập nhật thay đổi lần cuối ngày 20/5/2019 cho ông Nguyễn Anh T. Ông Nguyễn Văn S căn cứ vào Hợp đồng ủy quyền ngày 30/3/2021 (được công chứng tại Văn phòng C) giữa ông Nguyễn Anh T và ông Nguyễn Minh L có nội dung “Bên A (ông Nguyễn Anh T) ủy quyền cho bên B (ông Nguyễn Minh L) thực hiện thủ tục xóa thế chấp, sau khi hoàn tất việc cập nhập xóa thế chấp thì toàn quyền thay mặt bên A thực hiện việc nhận đặt cọc...” để ký kết hợp đồng đặt cọc và giao 3.500.000.000 đồng cho ông L để đặt cọc quyền sử dụng đất nêu trên. Ông L thừa nhận đã nhận số tiền 3.500.000.000 đồng từ ông S và đã trả lại cho ông S. Đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.2] Ông Nguyễn Văn S khởi kiện ông Nguyễn Anh T yêu cầu hủy Hợp đồng đặt cọc tiền ngày 10/4/2021 và buộc ông T phải bồi thường số tiền 35.000.000.000 đồng do ông T vi phạm hợp đồng. Ông Nguyễn Anh T có yêu cầu phản tố: Yêu cầu tuyên hợp đồng ủy quyền ngày 30/3/2021 giữa ông Nguyễn Anh T và ông Nguyễn Minh L là vô hiệu vì đây là hợp đồng giả tạo nhằm che dấu hợp đồng vay mượn tài sản.
[2.3] Xét Hợp đồng đặt cọc ngày 10/4/2021 giữa ông Nguyễn Văn S và ông Nguyễn Minh L thấy rằng, ông Nguyễn Văn S căn cứ vào Hợp đồng ủy quyền ngày 30/3/2021 giữa ông Nguyễn Anh T và ông Nguyễn Minh L để ký hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông L. Tuy nhiên, theo như hồ sơ thể hiện thì ngày 01/4/2021, Toà án nhân dân huyện Phú Giáo đã ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 23/2021/QĐ-BPKCTT là kê biên tài sản đối với thửa đất 726, tờ bản đồ số 12, tại ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương nên các bên thỏa thuận đặt cọc chuyển nhượng đối với thửa đất này là vi phạm điều cấm, giao dịch này là vô hiệu kể từ khi xác lập. Xét về lỗi của các bên: Ông L là người ký kết hợp đồng đặt cọc với ông S, ông S không biết được tài sản là quyền sử dụng đất được ông T ủy quyền đang bị kê biên. Khi thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng và đặt cọc ông Nguyễn Văn S không tìm hiểu về nguồn gốc đất, quyền sử dụng đất có được phép giao dịch không dẫn đến giao dịch bị vô hiệu do vi phạm điều cấm. Xét thấy, hợp đồng vô hiệu thì các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, lỗi dẫn đến hợp đồng đặt cọc vô hiệu thuộc về hai bên nên ông S yêu cầu ông T bồi thường gấp 10 lần tiền đặt cọc cho ông S số tiền 35.000.000.000 đồng là không có cơ sở chấp nhận. Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của nguyên đơn cung cấp USB ghi âm phiên tòa sơ thẩm và cho rằng biên bản phiên tòa không phản ánh đúng lời trình bày của đương sự. Tuy nhiên, việc ghi âm của nguyên đơn không xin phép Hội đồng xét xử sơ thẩm và sau khi xét xử, nguyên đơn cũng không có yêu cầu bổ sung, sửa chữa biên bản phiên tòa. Do đó, chứng cứ này không được thu thập theo đúng trình tự của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định nên không có căn cứ xem xét.
[2.4] Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn và các phần khác của bản án sơ thẩm, các đương sự không kháng cáo, Viện Kiểm sát không kháng nghị nên phát sinh hiệu lực pháp luật.
[3] Từ những phân tích trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S về việc buộc ông T phải bồi thường cọc là có căn cứ. Ông S kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ gì khác để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S.
[4] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông S là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên ông S được miễn theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148; Điều 296; khoản 1 Điều 308; Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn S về việc yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Anh T phải bồi thường số tiền 35.000.000.000 đồng (ba mươi lăm tỷ đồng).
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 153/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, tỉnh Bình Dương.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn S được miễn theo quy định.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Huỳnh |
Bản án số 97/2025/DS-PT ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc và yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền
- Số bản án: 97/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm
