Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 97/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 02/8/2024

V/v: “ Yêu cầu ly hôn và tranh chấp

nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Mộng Tuyền;
  • Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Văn Tiến;
  • Ông Huỳnh Hữu Phước;

- Thư ký phiên toà: Ông Trương Hữu Lộc – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Dương Thy Trúc Phương – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân sơ thẩm thụ lý số: 74/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024 về việc “Yêu cầu ly hôn và tranh chấp nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2024/QÐST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Trần Trung H, sinh năm 1994;
  • Địa chỉ: Số C, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
  • - Bị đơn: Chị Hồ Thị Thanh H1, sinh năm 1999;
  • Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.
  • Chổ ở hiện nay: Số H, ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
  • (Nguyên đơn anh H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn chị H1 vắng mặt lần 2 không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 19 tháng 02 năm 2024 nguyên đơn anh Trần Trung H trình bày:

Anh và chị Hồ Thị Thanh H1 cưới nhau vào năm 2020 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T vào ngày 14/9/2020. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 10 năm 2023 thì cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, vợ chồng thường xảy ra nhiều mâu thuẫn nên dần làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng rạng nứt trầm trọng không thể hàn gắn được, mặc dù gia đình hai bên có khuyên nhủ, hòa giải. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2023 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên anh nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Hồ Thị Thanh H1.

Về con chung: có 01 con chung là Trần Trung K, sinh ngày 29/9/2021, hiện đang sống cùng anh. Khi ly hôn, anh xin nuôi con, anh không yêu cầu chị H1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Tại biên bản hòa giải ngày 15 tháng 4 năm 2024 bị đơn chị Hồ Thị Thanh H1 trình bày:

Chị và anh Trần Trung H cưới nhau vào năm 2020 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T vào ngày 14/9/2020. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 10 năm 2023 thì cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, vợ chồng thường xảy ra nhiều mâu thuẫn nên dần làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng rạng nứt trầm trọng không thể hàn gắn được, mặc dù gia đình hai bên có khuyên nhủ, hòa giải. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2023 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên chị cũng đồng ý ly hôn với anh H.

Về con chung: có 01 con chung là Trần Trung K, sinh ngày 29/9/2021, hiện đang sống cùng anh H. Khi ly hôn, chị xin nuôi con, chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng:

Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thấy rằng Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng; thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư khách quan, độc lập khi xét xử. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử là đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thuận tình ly hôn của anh Trần Trung H và chị Hồ Thị Thanh H1. Về con chung: 01 con chung là Trần Trung K, sinh ngày 29/9/2021, hiện đang sống cùng anh H. Khi ly hôn, anh H xin tiếp tục nuôi con và không yêu cầu chị H1 cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp quy định của các điều 83, 84 Luật Hôn nhận và pháp luật nên đề nghị để con chung cho anh H nuôi dưỡng, ghi nhận anh H tự nguyện không yêu cầu chị H1 cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1]Về hôn nhân: Anh Trần Trung H và chị Hồ Thị Thanh H1 tự nguyện kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T vào ngày 14/9/2020. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc, có 01 con chung là Trần Trung K, sinh ngày 29/9/2021. Đến tháng 10 năm 2023 thì cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, vợ chồng thường xảy ra nhiều mâu thuẫn nên dần làm cho tình cảm vợ chồng ngày càng rạng nứt trầm trọng không thể hàn gắn được, mặc dù gia đình hai bên có khuyên nhủ, hòa giải. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2023 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên anh nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh ly hôn với chị H1. Trong quá trình tố tụng, Chị hoa cũng xác định tình cảm vợ chồng đã có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn nên chị cũng đồng ý ly hôn với anh H. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng tình trạng hôn nhân của anh H và chị H1 đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên thuận tình ly hôn của anh chị là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định tại điều 55 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử công nhận thuận tình ly hôn của anh H và chị H1.

[2] Trong quá trình chung sống với nhau, anh chị có 01 con chung là Trần Trung K, sinh ngày 29/9/2021, hiện đang sống cùng anh H. Khi ly hôn, anh H xin nuôi và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Chị H1 không đồng ý để con chung cho anh H tiếp tục nuôi mà chị xin để cho chị nuôi. Xét con chung từ khi sinh ra và khi vợ chồng anh chị ly thân thì con chung sống ổn định cuộc sống và tâm lý với anh H, anh H có nghề nghiệp có thu nhập ổn định và có người thân hổ trợ cùng anh chăm sóc con chung nên xét yêu cầu của anh H là có căn cứ phù hợp với điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình nên được HĐXX chấp nhận.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét .

[4] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), nguyên đơn anh H phải nộp theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn của anh Trần Trung H và chị Hồ Thị Thanh H1.
  2. Về con chung:
    1. Chấp nhận yêu cầu xin nuôi con chung Trần Trung K, sinh ngày 29/9/2021 của anh Trần Trung H. Anh Trần Trung H được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là Trần Trung K, sinh ngày 29/9/2021. Ghi nhận sự tự nguyện của anh H không yêu cầu chị H1 cấp dưỡng nuôi con.
    2. Không chấp nhận yêu cầu xin nuôi con chung Trần Trung K, sinh ngày 29/9/2021 của chị Hồ Thị Thanh H1.

    Chị Hồ Thị Thanh H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Trường hợp chị H1 lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con, hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn anh H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0004089 ngày 19/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri. Anh H đã nộp xong án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Báo cho nguyên đơn, bị đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND huyện Ba Tri;
  • - Chi cục THADS huyện Ba Tri;
  • - UBND thị trấn Tiệm Tôm;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ



Đặng Mộng Tuyền

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Trường Trịnh Thị Hồng T

Nguyễn Duy L

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2024/HNGĐ-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE về yêu cầu ly hôn và tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 97/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu ly hôn và tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xin ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger