TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 97/2024/HS-ST Ngày: 16-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hồng Thơ.
- Ông Trần Văn Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Phú - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 94/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 610/2024/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Thị Mỹ P, sinh năm 1968, tại Đồng Tháp. Nơi cư trú: Tổ 56, khóm D, Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Trình độ học vấn: 03/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Dương Thành T và bà Trần Thị Vũ V; Có chồng tên Lê Thanh H, sinh năm 1964 (chết) và có 02 người con, lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 07/9/2023, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm về tội “Cố ý gây thương tích” và Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 53/2023/HS-ST, ngày 05/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh và đình chỉ vụ án, do người bị hại xin rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với Dương Thị Mỹ P theo Bản án số 238/2023/HS-PT; Tạm giữ ngày 14/3/2024, tạm giam ngày 20/3/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Nguyễn Văn T1, sinh năm 1979 (vắng mặt).
Cư trú: Tổ H, ấp A, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. - Võ Anh T2, sinh năm 1991 (vắng mặt).
Cư trú: Tổ 38, khóm D, Phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. - Phạm Văn T3, sinh năm 2002 (vắng mặt).
Cư trú: Tổ 47, khóm E, Phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. - Phan Văn N, sinh năm 1997 (vắng mặt).
Cư trú: Tổ 30, khóm D, Phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. - Dương Hữu N1, sinh năm 1977 (vắng mặt).
Cư trú: Tổ 57, khóm D, Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Dương Thị Mỹ P là người không có nghề nghiệp ổn định, thông qua bạn bè ngoài xã hội P biết được người tên Đ (không rõ nhân thân) có bán ma túy đá nên P đã liên lạc mua ma túy đem về nhà chiết ra thành nhiều tép ma túy nhỏ và cất giấu tại nhà nhằm mục đích bán lại cho người khác kiếm lời để có tiền tiêu xài cá nhân. Quá trình điều tra đã xác định, trong khoảng thời gian từ ngày 01/3/2024 đến ngày 14/3/2024, P đã có hành vi bán trái phép chất ma túy tổng cộng 05 lần với tổng số tiền là 1.200.000 đồng, thu lợi được từ việc bán trái phép chất ma túy các lần trên là 800.000 đồng, cụ thể như sau:
Lần 1: Vào khoảng cuối tháng 02/2024, bị cáo P liên lạc với Đ đặt mua 3.000.000 đồng ma túy đá. Đ đồng ý bán và hẹn giao dịch trước hẻm nhà của bị cáo P tại Tổ E, Khóm D, Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Một lúc sau, P một mình đi bộ đến địa điểm đã hẹn và đưa cho Đ số tiền 3.000.000 đồng, Đ giao cho P 01 bịch nylon dạng nắp kẹp, bên trong có chứa ma túy đá. Mua được ma túy, bị cáo P đem về nhà dùng công cụ chiết ra thành nhiều tép ma túy nhỏ và để tất cả các tép ma túy trong 01 cái ca màu vàng, hiệu “CHAU HUNG”, đặt trên kệ đựng ly chén với mục đích bán lại cho người khác kiếm lời. Đến khoảng 09 giờ 20 phút ngày 01/3/2024, Nguyễn Văn T1 sử dụng số điện thoại 0783.124.xxx gọi vào số điện thoại 0766.921.xxx của bị cáo P hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá. P đồng ý bán và hẹn giao dịch tại B thuộc Phường C, thành phố C. Sau đó, P lấy 01 tép ma túy tương đương 200.000 đồng đã chiết ra trước đó, bên trong cái ca màu vàng, hiệu “CHAU HUNG”, cầm trong tay rồi đi bộ đến bến xe buýt thuộc Phường C, thành phố C, P đưa cho T1 01 tép ma túy đá dạng đoạn ống hút hàn kín, T1 trả cho P 200.000 đồng và mang ma túy về nhà một mình sử dụng hết tép ma túy này. Đối với số tiền 200.000 đồng có được do bán trái phép chất ma túy, bị cáo P đã tiêu xài cá nhân hết.
Lần 2: Khoảng 15 giờ ngày 07/3/2024, Nguyễn Văn T1 tiếp tục sử dụng số điện thoại 0783.124.xxx gọi vào số điện thoại 0766.921.xxx của P hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá. P đồng ý bán và hẹn giao dịch tại bến xe buýt thuộc Phường C, thành phố C. Sau đó, P lấy 01 tép ma túy tương đương 200.000 đồng đã chiết ra trước đó, cầm tép ma túy trên tay rồi đi bộ đến địa điểm đã hẹn với T1. Khi đến nơi, T1 đưa cho P số tiền 200.000 đồng, P giao cho T1 01 tép ma túy rồi đi về. Mua được ma túy, T1 về nhà một mình sử dụng hết số ma túy đã mua. Đối với số tiền 200.000 đồng P đã tiêu xài cá nhân hết.
Lần 3: Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 13/3/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên Võ Anh T2 sử dụng số điện thoại 0587.118.xxx gọi vào số điện thoại 0766.921.xxx của bị cáo P với mục đích hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá. P đồng ý bán và hẹn giao dịch tại bến xe buýt thuộc Phường C, thành phố C. Sau đó, P lấy 01 tép ma túy tương đương 200.000 đồng trong ca màu vàng, hiệu “CHAU HUNG”, cầm tép ma túy trên tay rồi đi bộ đến địa điểm đã hẹn giao ma túy cho T2 và nhận 200.000 đồng. Mua được ma túy, T2 một mình sử dụng hết số ma túy đá này. Đối với số tiền 200.000 đồng, P đã tiêu xài cá nhân hết.
Lần 4: Vào khoảng 17 giờ 40 phút ngày 13/3/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Phạm Văn T3 và Phan Văn N hùn tiền mỗi người 100.000 đồng để mua ma túy đá chia nhau sử dụng. Sau đó, Phạm Văn T3 sử dụng số điện thoại 0399.953.xxx gọi đến số điện thoại 0766.921.xxx của bị cáo P đặt mua 200.000 đồng ma túy đá. P đồng ý bán và hẹn giao ma túy tại đường C thuộc Tổ 29, khóm M, Phường C, thành phố C. Sau đó, P lấy 01 tép ma túy tương đương 200.000 đồng trong ca màu vàng, hiệu “CHAU HUNG” và cầm tép ma túy trên tay rồi đi bộ đến địa điểm hẹn. Lúc này, T3 điều khiển xe mô tô chở N đến địa điểm đã hẹn, khi đến nơi thì N ngồi trên xe đợi, T3 xuống xe đi đến chỗ của P cách chỗ đậu xe khoảng 10 mét. P thấy T3 01 mình đi đến và đưa số tiền mua ma túy là 200.000 đồng, P giao lại cho T3 01 tép ma túy rồi đi về. Mua được ma túy, T3 và N chia ma túy thành hai phần, mỗi người giữ một phần rồi đi sử dụng riêng số ma túy này. Đối với số tiền 200.000 đồng thì P đã tiêu xài cá nhân hết.
Lần 5: Sáng ngày 14/3/2024, P liên lạc với Đ hỏi mua 3.000.000 đồng ma túy đá, Đ đồng ý bán và hẹn giao dịch trước hẻm nhà của bị cáo P. Sau đó, P một mình đi bộ đến địa điểm đã hẹn đưa cho Đ 3.000.000 đồng, Đ giao lại cho P một bịch nylon dạng nắp kẹp, bên trong có chứa ma túy đá. Mua được ma túy, P vào nhà cất giấu bên trong một cái ca màu vàng, hiệu “CHAU HUNG” với mục đích bán cho người khác để kiếm lời. Đến khoảng 14 giờ ngày 14/3/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên Nguyễn Văn T1 sử dụng số điện thoại 0783.124.xxx gọi vào số điện thoại 0766.921.xxx của P để đặt mua 02 tép ma túy đá với tổng số tiền 400.000 đồng, P đồng ý bán và hẹn giao dịch tại đường C thuộc Phường C, thành phố C. Sau đó, P lấy 02 tép ma túy đã chiết ra từ trước, mỗi tép là 200.000 đồng từ trong một cái ca màu vàng, hiệu “CHAU HUNG", cầm 02 tép ma túy trong tay. Bị cáo P mượn xe đạp của ông Dương Hữu N1 chạy đến địa điểm đã hẹn với T1. Khoảng 14 giờ 35 phút cùng ngày, khi P đang điều khiển xe đạp trên đường C thuộc Tổ 29, khóm M, Phường C, thành phố C thì thấy lực lượng Công an, P sợ bị bắt nên ném 02 tép ma túy đá xuống đường thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Đ kết hợp cùng Công an thành phố C bắt quả tang cùng tang vật.
- Tại hiện trường, phát hiện và tạm giữ:
- + Dương Thị Mỹ P tự nhặt 02 đoạn ống hút nhựa màu xanh, hàn kín, bên trong đều có chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng mà P vừa ném xuống đường và giao nộp cho lực lượng Công an. Sau đó, được niêm phong trong phong bì, ký hiệu NS3-23013406. P khai nhận tinh thể rắn bên trong 02 đoạn ống hút hàn kín nêu trên đều là ma túy đá của P và đang trên đường đem bán cho T1.
- + Kiểm tra trên người Dương Thị Mỹ P, tạm giữ: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu REALME, màu xanh đen, sim 0766.921.138. P khai nhận đã sử dụng làm phương tiện liên lạc để bán ma túy.
- + Tạm giữ 01 xe đạp mini, màu trắng, đã qua sử dụng là phương tiện mà P sử dụng đi giao ma túy đá.
- Cơ quan điều tra tiến hành khám xét chỗ ở của Dương Thị Mỹ P tại Tổ E, Khóm D, Phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, phát hiện và tạm giữ những đồ vật sau:
- + Trên kệ đựng ly, chén có 01 ca nhựa màu vàng, hiệu “CHAU HUNG”, bên trong ca nhựa chứa: 01 bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp một đầu, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; 05 đoạn ống hút bằng nhựa, màu xanh hàn kín, bên trong chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng; 05 đoạn ống hút nhựa màu trắng hàn kín, bên trong chứa nhiều tinh thể rắn màu trắng, tất cả được niêm phong trong một túi niêm phong, ký hiệu NS3-23013407. P khai nhận tất cả tinh thể rắn chứa bên trong 01 bịch nylon nắp kẹp và 10 đoạn ống hút nhựa hàn kín đều là ma túy đá của P, mục đích là để bán cho người khác.
- + Dưới bàn thờ, phát hiện và tạm giữ: 01 bịch nylon màu hồng, bên trong có 01 nắp nhựa màu hồng, trên nắp đựng 04 đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng (bên trong không chứa gì); 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng, một đầu nhọn; 01 kéo kim loại, màu trắng; 01 hột quẹt gas màu trắng;
- + Trên vách có treo một tủ sắt, bên trong tủ sắt chứa: 12 đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng; 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng, cắt xéo một đầu. P khai nhận đây là công cụ dùng để chiết lẻ ma túy để bán cho người khác.
* Bản Kết luận giám định số 287/KL-KTHS ngày 17/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận:
- - Tinh thể rắn chứa bên trong 02 đoạn ống hút bằng nhựa, màu xanh hàn kín hai đầu, được niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu “NS3-23013406", gửi đến giám định đều là chất ma túy, có tổng khối lượng 0,356 gam, loại Methamphetamine;
- - Tinh thể rắn chứa bên trong 01 bịch nylon màu trắng, dạng nắp kẹp một đầu và tinh thể rắn chứa bên trong 10 đoạn ống hút bằng nhựa, hàn kín hai đầu, được niêm phong trong cùng một túi niêm phong ký hiệu “NS3-23013407” gửi đến giám định đều là chất ma túy, có tổng khối lượng 6,327 gam, loại Methamphetamine.
Đối với một xe đạp mini, màu trắng là tài sản của ông Dương Hữu N1. Việc bị cáo P mượn xe đạp để thực hiện hành vi phạm tội ông N1 hoàn toàn không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe đạp cho ông N1.
Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định chất ma túy, biên bản kiểm tra điện thoại di động, biên bản nhận dạng, lời khai người liên quan và cùng các chứng cứ khác được thu nhập trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 92/CT-VKS-TPCL, ngày 04 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Dương Thị Mỹ P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Dương Thị Mỹ P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Dương Thị Mỹ P với mức án từ 08 năm đến 09 năm tù.
Áp dụng khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự, đề nghị phạt bổ sung bằng tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với bị cáo Dương Thị Mỹ P.
Về xử lý vật chứng như Cáo trạng nêu.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo không tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định, Biên bản kiểm tra dữ liệu điện thoại di động, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:
Khoảng 14 giờ 35 phút ngày 14/3/2024, P đang mang 0,356 gam ma túy, loại Methamphetamine để bán cho Nguyễn Văn T1, với giá 400.000 đồng, khi P đang điều khiển xe đạp trên đường C thuộc Tổ 29, khóm M, Phường C, thành phố C thì thấy lực lượng Công an, P sợ bị bắt nên ném 02 tép ma túy đá xuống đường bị lực lượng Công an phát hiện, lập biên bản bắt quả tang thu giữ cùng tang vật. Đồng thời, tiến hành khám xét chỗ ở của bị cáo P đã phát hiện và thu giữ 6,327 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để bán trái phép chất ma túy cho người khác. Ngoài ra, quá trình điều tra bị cáo còn bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn T1 02 lần vào ngày 01/3/2024, 07/3/2024, thu lợi bất chính với số tiền 400.000 đồng; bán trái phép chất ma túy cho Võ Anh T2 01 lần vào ngày 13/3/2024, thu lợi bất chính với số tiền 200.000 đồng và bán trái phép chất ma túy cho Phạm Văn T3 01 lần (hùn tiền với Phan Văn N mỗi người 100.000 đồng) vào ngày 13/3/2024, thu lợi bất chính với số tiền 200.000 đồng. Như vậy, Dương Thị Mỹ P đã 05 lần bán trái phép chất ma túy, thu lợi bất chính tổng cộng số tiền 800.000 đồng, tổng khối lượng ma túy thu giữ là 6,683 gam, loại Methamphetamine.
Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất với tội danh như Cáo trạng truy tố; bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận lời luận tội của Kiểm sát viên như người, như tội, như với tính chất, mức độ và tính vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
Bị cáo là người tỉnh táo, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lí của nhà nước về chất ma túy. Bị cáo Dương Thị Mỹ P có hành vi bán trái phép chất ma túy 05 lần, trong đó đã bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn T1 03 lần, với số tiền 400.000 đồng, tuy nhiên 01 lần bán trái phép chất ma túy cho T1, chưa nhận được tiền của T1 thì bị bắt quả tang; Võ Anh T2 01 lần, với số tiền 200.000 đồng và Phạm Văn T3 01 lần (hùn tiền với Phan Văn N mỗi người 100.000 đồng) với số tiền 200.000 đồng, thu lợi bất chính với tổng số tiền là 800.000 đồng; ngoài ra khám xét chỗ ở của bị cáo P đã phát hiện và thu giữ 6,327 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để bán trái phép chất ma túy cho người khác. Như vậy, Dương Thị Mỹ P đã 05 lần bán trái phép chất ma túy, thu lợi bất chính số tiền 800.000 đồng và tổng khối lượng chất ma túy thu giữ là 6,683 gam, loại Methamphetamine.
Trong phần tranh luận tại phiên tòa, lời luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cho rằng bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp truy tố là hoàn toàn có căn cứ.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Dương Thị Mỹ P phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:...
b) Phạm tội 02 lần trở lên; ...
i) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;
...”
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lí của nhà nước về chất ma túy, mà còn ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Người sử dụng ma túy chỉ biết sử dụng ma túy để thỏa mãn cho bản thân, không chăm sóc cho gia đình, ảnh hưởng đến sức khỏe của người sử dụng và ma túy còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó, cần áp dụng cho bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, tình vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có thời gian học tập, cải tạo, trở thành người tốt có ích cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[3] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết:
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là 1 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Buộc bị cáo Dương Thị Mỹ P nộp lại số tiền 800.000 đồng là tiền do bán trái phép chất ma túy mà có để nộp sung vào ngân sách nhà nước;
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động, nhãn hiệu REALME, màu xanh đen, gắn sim 0766921138, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội.
- - Tịch thu tiêu hủy vật chứng là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng gồm:
Chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,313 gam, ký hiệu “M1” còn lại sau khi trích mẫu phục vụ cho công tác giám định, được niêm phong trong phong bì, ghi “Niêm phong số: 303/1, ngày 14/3/2024” trên phong bì có đóng dấu tròn màu đỏ của “Phòng K Công an tỉnh đồng Tháp” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Văn Thắng E, Đinh Nhựt D, Nguyễn Hồng C1 và Dương Thị Mỹ P.
Chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 4,815 gam, ký hiệu “M2” và chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 1,312 gam, ký hiệu “M3” còn lại sau khi trích mẫu phục vụ cho công tác giám định, tất cả được niêm phong trong phong bì, ghi “Niêm phong số: 303/2, ngày 14/3/2024” trên phong bì có đóng dấu tròn màu đỏ của “Phòng K Công an tỉnh đồng Tháp” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Văn Thắng E, Đinh Nhựt D, Nguyễn Hồng C1 và Dương Thị Mỹ P.
01 cái ca bằng nhựa, màu vàng, có ghi hiệu “CHAU HUNG”, đã qua sử dụng; 01 bịch nylon màu hồng, đã qua sử dụng; 01 nắp nhựa màu hồng, đã qua sử dụng; 04 đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng, đã qua sử dụng; 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng, một đầu cắt nhọn, đã qua sử dụng; 01 kéo bằng kim loại, màu trắng, đã qua sử dụng; 01 bật lửa, màu trắng, đã qua sử dụng; 12 đoạn ống hút bằng nhựa, màu trắng, đã qua sử dụng; 01 đoạn ống hút bằng nhựa, màu trắng, cắt xéo một đầu, đã qua sử dụng.
- Đối với 01 xe đạp, màu trắng, có rỗ bằng nhựa, trên yên có chữ “DDK” là tài sản của ông Dương Hữu N1. Bị cáo P mượn xe đạp của ông N1 để đi công việc và bị cáo P đã sử dụng xe đạp này để thực hiện hành vi phạm tội nhưng ông N1 hoàn toàn không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe đạp cho ông N1 xong.
[5] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập không ổn định nên không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 50 của Bộ luật hình sự.
[6] Về các vấn đề khác:
Đối với người tên Đ đã bán trái phép chất ma tuý cho bị cáo P do không rõ nhân thân, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Văn T1, Võ Anh T2, Phạm Văn T3 và Phan Văn N là người mua ma túy của Dương Thị Mỹ P để sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Đồng Tháp đã có văn bản chuyển hồ sơ đến Công an thành phố C, tỉnh Đồng Tháp để xem xét xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Đối với ông Dương Hữu N1 cho bị cáo P mượn xe để đi công việc và bị cáo P đã sử dụng xe đạp này để thực hiện hành vi phạm tội nhưng ông N1 hoàn toàn không biết nên không xem xét xử lý.
Đối với bị cáo P đã bị khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích”, do bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với bị cáo Dương Thị Mỹ P và theo Bản án số 238/2023/HS-PT ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã tuyên Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 53/2023/HS-ST, ngày 05/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh và đình chỉ vụ án. Tại Công văn số 118/UBND, ngày 04/12/2024 của Ủy ban nhân dân Phường B, thành phố C xác định Ủy ban nhân dân Phường B không có thụ lý hồ sơ xử lý vi phạm hành chính đối với Dương Thị Mỹ P là chưa đúng theo quy định tại Điều 63 của Luật xử lý vi phạm hành chính chính và Tòa án sẽ có văn bản kiến nghị riêng đối với người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tại phiên tòa, như phần phân tích nêu trên là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tại phiên tòa về hình phạt bổ sung, như phần phân tích nêu trên chưa phù hợp nên không chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Dương Thị Mỹ P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Dương Thị Mỹ P 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/3/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Buộc bị cáo Dương Thị Mỹ P nộp lại số tiền 800.000 đồng, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động, nhãn hiệu REALME, màu xanh đen, gắn sim 0766921138, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- + Tịch thu tiêu hủy vật chứng là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng gồm:
Chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,313 gam, ký hiệu “M1” còn lại sau khi trích mẫu phục vụ cho công tác giám định, được niêm phong trong phong bì, ghi “Niêm phong số: 303/1, ngày 14/3/2024” trên phong bì có đóng dấu tròn màu đỏ của “Phòng K Công an tỉnh đồng Tháp” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Văn Thắng E, Đinh Nhựt D, Nguyễn Hồng C1 và Dương Thị Mỹ P.
Chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 4,815 gam, ký hiệu “M2” và chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 1,312 gam, ký hiệu “M3” còn lại sau khi trích mẫu phục vụ cho công tác giám định, tất cả được niêm phong trong phong bì, ghi “Niêm phong số: 303/2, ngày 14/3/2024” trên phong bì có đóng dấu tròn màu đỏ của “Phòng K Công an tỉnh đồng Tháp” và các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Văn Thắng E, Đinh Nhựt D, Nguyễn Hồng C1 và Dương Thị Mỹ P.
01 cái ca bằng nhựa, màu vàng, có ghi hiệu “CHAU HUNG”, đã qua sử dụng; 01 bịch nylon màu hồng, đã qua sử dụng; 01 nắp nhựa màu hồng, đã qua sử dụng; 04 đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng, đã qua sử dụng; 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng, một đầu cắt nhọn, đã qua sử dụng; 01 kéo bằng kim loại, màu trắng, đã qua sử dụng; 01 bật lửa, màu trắng, đã qua sử dụng; 12 đoạn ống hút bằng nhựa, màu trắng, đã qua sử dụng; 01 đoạn ống hút bằng nhựa, màu trắng, cắt xéo một đầu, đã qua sử dụng.
(Hiện vật chứng đang được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/11/2024).
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Dương Thị Mỹ P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh Hiền |
Bản án số 97/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự - tội mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 97/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
