|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 97/2024/HS-ST Ngày 16 - 12 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Kim Đính
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Thanh Hương, bà Lữ Kim Hằng
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Hải là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà là Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 110/2024/TLST-HS ngày 29/11/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Hoài P, sinh năm 1987 tại tỉnh Đồng Nai;
Nơi cư trú: Ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai;
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo (Công giáo); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa-học vấn: 8/12; con ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1956 và bà Vũ Thị G, sinh năm 1961; vợ, con: Không;
Có 02 tiền án: Ngày 18/01/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai kết án 01 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 18/01/2012 đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích do không bồi thường thiệt hại (trách nhiệm dân sự); Ngày 26/8/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai kết án 01 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến ngày 11/4/2020 chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích do chưa nộp án phí.
Tiền sự: Theo Quyết định 87 ngày 27/05/2021 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì bị cáo đã chấp hành xong ngày 31/8/2022.
Nhân thân: Bản án số 180/2024/HS-ST ngày 29/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai kết án 03 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2024.
Bị tạm giam ngày 12/9/2024.
*Bị hại: Ông Nguyễn Duy T, sinh năm 1968
Địa chỉ tại ấp S, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai
*Người làm chứng: Hoàng Văn T1, sinh năm 1992
Nơi cư trú: ấp L, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai
(Bị cáo có mặt, người tham gia tố tụng còn lại vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 04/11/2023, bị cáo có công việc nên điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha SIRIUS, màu đỏ đen, biển số 60B8- 636.06 của bà Vũ Thị G - sinh năm 1961, trú tại ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Khi đi đến nhà bị hại thuộc ấp S, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai nhìn thấy mở cổng nhà khóa cửa không có người, kề bên nhà có một bộ máy bơm xịt thuốc sâu nên bị cáo đã đi vào gần nơi để máy bơm và quay đầu xe mô tô ra đường và lấy trộm bộ máy bơm để lên xe đưa đến tiệm ve chai “Tập Thơ” của Hoàng Văn T1, sinh năm 1992, trú tại ấp L, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai, đã bán được 600.000 đồng đã sử dụng hết số tiền này (Bút lục: 51-56).
Thu giữ vật chứng:
01 đoạn Video trích xuất từ camera tại nhà bị hại ghi lại hành vi bị cáo trộm cắp bình xịt thuốc sâu.
01 bộ máy bơm xịt thuốc sâu mà bị cáo đã bán với Hoàng Văn T1 thì T1 đã bán (không biết được nhân thân của người mua) nên không thu hồi được vật chứng;
01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha SIRIUS, màu đỏ đen, biển số 60B8- 636.06 mà bị cáo sử dụng đi trộm cắp tài sản đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra quyết định trả lại bà Gia.
Tại kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐG ngày 22/07/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự (UBND huyện C), kết luận: 01 bộ máy bơm xịt thuốc sâu, 02 mã lực có giá trị 3.237.500 đồng (Bút lục: 26, 27).
Cáo trạng số 112/CT-VKSCM ngày 29/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội như sau:
Bị cáo trộm cắp tài sản của bị hại nên Cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật.
Xét bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội gây thiệt hại không lớn, đầu thú là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015; tuyên bố bị cáo phạm tội “trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo 02 năm đến 03 năm tù.
Tổng hợp hình phạt các Bản án theo Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối với Hoàng Văn T1 khi mua máy xịt thuốc không biết là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có nên không phạm tội.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận ý kiến của bị cáo đồng ý bồi thường 3.700.000 đồng đối với bị hại.
* Bị cáo trình bày ý kiến:
Đồng ý bồi thường thiệt hại tài sản là 3.700.000 đồng theo yêu cầu của người bị hại.
Bị cáo đồng ý nội dung Cáo trạng, không có ý kiến tranh luận tại phiên tòa, bị cáo nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án là đề nghị Hội đồng xét xử xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hoạt động tiến hành tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C, tỉnh Đồng Nai và Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đến nay, người tham gia tố tụng trong vụ án không có khiếu nại. Hoạt động tiến hành tố tụng của Công an huyện C và Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ phù hợp pháp luật.
Bị hại, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án, có thể công bố lời khai của họ để tranh tụng nên không ảnh hưởng hoạt động xét xử. Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của Kiểm sát viên, quyết định xét xử vụ án vắng bị hại, người làm chứng là phù hợp các Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về trách nhiệm hình sự:
Bị cáo trình bày ý kiến về hành vi thực hiện tội phạm theo nội dung Cáo trạng là đúng sự thật. Ý kiến trình bày của bị cáo thống nhất với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp vật chứng, ý kiến của người bị hại, kết luận định giá tài sản và tài liệu khác của vụ án. Các chứng cứ này chứng minh bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo đúng quy định pháp luật.
* Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức để nhận biết hành vi vi phạm pháp luật, trộm cắp tài sản của người bị hại là nguy hiểm trong xã hội, vụ án xảy ra góp phần làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Khi nghị án Hội đồng xét xử thảo luận thống nhất ý kiến, cần phải áp dụng hình phạt tù tương xứng hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân có ích trong xã hội.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội gây thiệt hại không lớn, đã đầu thú nên được áp dụng các điểm s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
Bị cáo đang phải chấp hành hình phạt tù theo Bản án số 180/2024/HS-ST ngày 29/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai nên Hội đồng xét xử tổng hợp hình phạt các Bản án theo Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối với Hoàng Văn T1 mua tài sản của bị cáo nhưng không biết là tài sản do trộm cắp nên không có hành vi vi phạm pháp luật hình sự, Viện Kiểm sát không đề nghị xử lý hình sự là đúng pháp luật.
[3]. Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận ý kiến của bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại là 3.700.000 đồng đối với người bị hại.
[4]. Về án phí: Bị cáo là người bị kết án phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án.
[5] Luận tội của Kiểm sát viên phù hợp chứng cứ vụ án, quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, các điểm s, h khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoài P phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Xử phạt:
Nguyễn Hoài P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù
Tổng hợp hình phạt của Bản án số 180/2024/HS-ST ngày 29/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai kết án: 03 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2024.
Bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 14 tháng 01 năm 2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận ý kiến của bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại là 3.700.000đ (ba triệu, bảy trăm nghìn đồng) đối với người bị hại.
- Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về trách nhiệm thi hành án dân sự: Bản án được thi hành theo quy định tại các Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9, Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với bị hại có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tống đạt Bản án hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Kim Đính |
Bản án số 97/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 97/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phong - Đ 173
