Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAO LỘC

TỈNH LẠNG SƠN

Bản án số: 97/2024/HS-ST

Ngày 09-12-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nông Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Triệu Thu Lương

Bà Hoàng Thị Hường.

- Thư ký phiên toà: Bà Tạ Phương Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà:

Bà Vũ Thị Huê - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh Trúc L; (tên gọi khác: Không), sinh ngày 31 tháng 10 năm 2003 tại tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: Số nhà A T, Phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị T; chung sống với Hạ Tây D như vợ chồng (không đăng ký kết hôn) và có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự cụ thể: Ngày 16/01/2024 Nguyễn Thanh Trúc L có hành vi Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục nhập cảnh theo quy định của pháp luật, Đồn Biên phòng B thuộc Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh L đã xử phạt vi phạm hành chính 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) đã thi hành, nhưng chưa được xóa tiền sự; về nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử lý kỷ luật, đã bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/9/2024, tạm giam từ ngày 04/9/2024 đến nay; có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Sỹ T1; vắng mặt;
  2. Chị Nguyễn Thị Thu C; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 20 phút ngày 01/9/2024, tại đường mòn biên giới khu vực mốc 1197 thuộc thôn P, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Tổ công tác của Đồn Biên phòng B thuộc Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh L phối hợp với Công an xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đang thực hiện nhiệm vụ phát hiện 04 người gồm Nguyễn Sỹ T1, sinh năm: 1984; trú tại: Khu phố B, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa, Nguyễn Thị Thu C, sinh năm 1991; trú tại: Số nhà A, ấp V, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long, Nguyễn Thanh Trúc L, sinh năm 2003; trú tại: Số nhà A T, Phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long và Hạ Dung D1 (Quốc tịch Trung Quốc), sinh năm 2021 là con gái của Nguyễn Thanh Trúc L. Cả 04 người không có giấy tờ nhập cảnh và tự khai đã nhập cảnh trái phép từ Trung Quốc vào Việt Nam. Do có dấu hiệu của T2 vi phạm quy định về nhập cảnh. Tổ Công tác đưa người về trụ sở Ủy ban nhân dân xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn lập biên bản sự việc, xác minh làm rõ.

Qua điều tra xác định: Khoảng tháng 8/2019, Nguyễn Thanh Trúc L một mình xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc theo đường mòn biên giới thuộc tỉnh Lạng Sơn, mục đích để làm thuê. Khi sang đến Trung Quốc, Nguyễn Thanh Trúc L làm nhân viên phục vụ quán ăn tại tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Tại đây, Nguyễn Thanh Trúc L quen biết và lấy Hạ Tây D (Xia X), sinh ngày 18/10/1991, trú tại: số A tổ D, Hạ Thiết L1, trấn Q, khu U, thành phố N, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, quốc tịch: Trung Quốc làm chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Năm 2021, Nguyễn Thanh Trúc L sinh được một người con gái tên Hạ Dung D1 (Xia R). Ngày 16/01/2024, do muốn về thăm gia đình nên Nguyễn Thanh Trúc L đã một mình từ Trung Quốc nhập cảnh trái phép vào Việt Nam theo đường mòn biên giới thì bị đồn Biên phòng B, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh L phát hiện. Ngày 24/01/2024, Đồn Biên phòng B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thanh Trúc L về hành vi qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục nhập cảnh theo quy định của pháp luật, số tiền phạt là 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).

Sau khi chấp hành xong quyết định xử phạt, Nguyễn Thanh Trúc L về nhà tại ấp T, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long làm ăn sinh sống. Đến tháng 3/2024 Nguyễn Thanh Trúc L xuất cảnh sang Trung Quốc bằng hộ chiếu theo đường hàng không từ sân bay T, thành phố Hồ Chí Minh sang tỉnh Hà Nam, Trung Quốc và sinh sống tại nhà chồng.

Ngày 25/8/2024, Nguyễn Thanh Trúc L nói với dì là Nguyễn Thị Thu C (năm sinh 1991; trú tại: Số nhà A, ấp V, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long; đang sinh sống tại Trung Quốc từ năm 2019) muốn cùng con gái về Việt Nam thăm gia đình, Nguyễn Thị Thu C nói cũng muốn về và bảo Nguyễn Thanh Trúc L tìm người đưa nhập cảnh trái phép về Việt Nam. Nguyễn Thanh Trúc L đã lên mạng xã hội Wechat tìm thì được một người đàn ông (không rõ là người Việt Nam hay Trung Quốc) sử dụng tài khoản tên “Hải Anh” (không rõ số điện thoại, thông tin cá nhân) cho biết có thể đưa người từ Trung Quốc đến biên giới Việt Nam, chi phí Nguyễn Thanh Trúc L cùng con gái hết 10.600 NDT (nhân dân tệ), chi phí của Nguyễn Thị Thu C hết 8500 NDT (nhân dân tệ), Nguyễn Thanh Trúc L đồng ý và chuyển 10.600NDT (nhân dân tệ) qua Wechat cho người này. Sau đó Nguyễn Thanh Trúc L thông báo cho Nguyễn Thị Thu C biết đã tìm được người đưa về Việt Nam, chi phí hết 8500NDT (nhân dân tệ) Nguyễn Thị Thu C đồng ý và chuyển 8500 NDT (nhân dân tệ) qua mã QR Wechat cho người sử dụng tài khoản “Hải Anh”. Khoảng 10 giờ ngày 26/8/2024, Nguyễn Thanh Trúc L cùng con gái và Nguyễn Thị Thu C hẹn nhau ra một quán nước rồi Nguyễn Thanh Trúc L gửi vị trí cho người sử dụng tài khoản tên “Hải A” đón. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày có một người đàn ông Trung Quốc lái xe ô tô (không biết họ tên, năm sinh, địa chỉ, không rõ biển số xe) đến đón và đưa ba người đến huyện N, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc vào một nhà nghỉ (không rõ tên, địa chỉ) chờ 05 ngày. Khoảng 19 giờ ngày 31/8/2024 có một người đàn ông Trung Quốc đi xe ô tô (không biết họ tên, năm sinh, địa chỉ, không rõ biển số xe) đến đón đi tiếp đến một nhà nghỉ khác (tại huyện N, Trung Quốc) chờ đi tiếp. Trong khi cả ba đang chờ tại nhà nghỉ này thì Nguyễn Sỹ T1 (sinh năm: 1984; trú tại: Khu phố B, phường Q, thàng phố S, tỉnh Thanh Hóa (trước đó khoảng tháng 8/2023, T1 đã xuất cảnh trái phép sang tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc làm thuê, do có nhu cầu về Việt Nam nên T1 đã thông qua mạng xã hội tìm được một người đàn ông Trung Quốc không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể cho biết có thể đưa người từ Trung Quốc về Việt Nam, với giá 7000 NDT (nhân dân tệ) tới ở cùng phòng. Đến khoảng 04 giờ 00 ngày 01/9/2024 Nguyễn Thanh Trúc L, Nguyễn Thị Thu C, Hạ Dung D1, Nguyễn Sỹ T1 được một người đàn ông lái xe ô tô đến đón (không biết họ tên, địa chỉ, không rõ biển số xe, là người Trung Quốc) đưa ra biên giới thuộc huyện N, Q. Sau đó được một người đàn ông Trung Quốc khác (không biết họ tên, năm sinh, địa chỉ) dẫn bốn người đi bộ theo đường mòn lên biên giới để nhập cảnh trái phép vào Việt Nam. Khi đến khu vực có hàng rào sắt của Trung Quốc - Việt Nam lúc đó vào khoảng 09 giờ ngày 01/9/2024 người đàn ông này bảo 04 người tự chui qua hàng rào và đi bộ vào nội địa Việt Nam, đồng thời bảo L, C, Tiền xóa hết các nội dung đã liên lạc trong điện thoại. Khi Nguyễn Thanh Trúc L, Nguyễn Thị Thu C, Hạ Dung D1, Nguyễn Sỹ T1 đang trên đường nhập cảnh trái phép thì bị lực lượng Bộ đội biên phòng phát hiện.

Vật chứng của vụ án: Tạm giữ của bị cáo Nguyễn Thanh Trúc L 01 (một) hộ chiếu mang tên Nguyễn Thanh Trúc L, 01 (một) căn cước công dân mang tên Nguyễn Thanh Trúc L, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh bên trong lắp 01 (một) sim.

Tại Bản cáo trạng số 122/CT-VKSLS-P2, ngày 12/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Trúc L về Tội vi phạm quy định về nhập cảnh trái phép theo Điều 347 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Thanh T3 Ly khai nhận diễn biến hành vi phạm tội đúng như bản Cáo trạng nêu. Bị cáo thừa nhận biết hành vi nhập cảnh mà không có giấy tờ của cơ quan Nhà nước theo quy định là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, do có nhu cầu cần về Việt Nam nên bị cáo đã nhập cảnh mà không có giấy tờ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Trúc L phạm Tội vi phạm quy định về nhập cảnh trái phép.

Về điều luật và hình phạt: Áp dụng Điều 347; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự- xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Trúc L từ 03 (ba) tháng đến 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh Trúc L 01 (một) hộ chiếu mang tên Nguyễn Thanh Trúc L, 01 (một) căn cước công dân mang tên Nguyễn Thanh Trúc L đây là giấy tờ tùy thân của bị cáo; tịch thu hóa giá, sung ngân sách 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh bên trong lắp 01 (một) sim dó có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo nhất trí với nội dung bản luận tội, không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo phù hợp với diễn biến hành vi phạm tội và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên Tòa những người làm chứng anh Nguyễn Sỹ T1, chị Nguyễn Thị Thu C đều vắng mặt (không có lý do). Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của họ. Xét thấy, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án. Do vậy, căn cứ khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định.

[3] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận vào hồi 11 giờ 20 phút ngày 01/9/2024 tại đường mòn biên giới khu vực mốc 1197 thuộc thôn P, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, Nguyễn Thanh Trúc L đã có hành vi nhập cảnh trái phép vào Việt Nam. Trước đó ngày 16/01/2024, Nguyễn Thanh Trúc L đã vi phạm về hành vi này và Đồn Biên phòng B, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh L xử phạt vi phạm hành chính. Trong biên bản vi phạm hành chính ngày 16/01/2024, Nguyễn Thanh Trúc L đã được người có thẩm quyền giải thích các quy định của pháp luật và bản thân bị cáo cũng thừa nhận việc nhập cảnh trái phép là vi phạm pháp luật, chưa được xoá tiền sự. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học, ngày 01/9/2024 bị cáo lại tiếp tục có hành vi vi phạm nhập cảnh vào Việt Nam qua đường mòn khu vực mốc 1197 thuộc thôn P, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn mà không được phép của cơ quan có thẩm quyền. Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành Tội vi phạm quy định về nhập cảnh trái phép theo Điều 347 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Thanh Trúc L về Tội vi phạm quy định về nhập cảnh trái phép theo Điều 347 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[4] Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất, nhập cảnh gây ảnh hưởng xấu đến việc giữ gìn an ninh chính trị tại khu vực biên giới, gây mất trật tự, trị an xã hội tại địa phương; gây khó khăn cho công tác quản lý việc xuất, nhập cảnh của cơ quan có thẩm quyền. Ý thức được điều đó nhưng vì mục đích cá nhân nên đã thúc đẩy bị cáo phạm tội, bị cáo là người có đủ năng lực pháp luật chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Do vậy, việc đưa bị cáo ra truy tố trước pháp luật là cần thiết nhằm mục đích răn đe giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Để có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo như sau:

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, nhưng có 01 tiền sự chưa được xoá; tiền sự này là tình tiết định tội đối với bị cáo và cũng là căn cứ xác định bị cáo là người có ý thức chấp hành pháp luật không tốt.

[8] Trong tình hình hiện nay, hiện tượng người dân xuất, nhập cảnh qua biên giới không làm thủ tục giấy tờ hợp pháp diễn ra ngày càng phức tạp, ảnh hưởng đến việc quản lý đường biên, mốc giới của Nhà nước và chính quyền địa phương. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy để đáp ứng tình hình chính trị tại địa phương cần cách Nguyễn Thanh Trúc L bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, răn đe bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.

[9] Về biện pháp từ pháp: Không.

[10] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xét thấy:

[11] Đối với 01 (một) hộ chiếu mang tên Nguyễn Thanh Trúc L, 01 (một) căn cước công dân mang tên Nguyễn Thanh Trúc L đây là giấy tờ tùy thân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh Trúc L.

[12] Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh bên trong lắp 01 (một) sim do có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Tịch thu, bán hóa giá, sung ngân sách Nhà nước.

[13] Đối với người đàn ông sử dụng Wechat tên “Hải A” là người nhận tiền đưa Nguyễn Thanh Trúc L, Hạ Dung D1, Nguyễn Thị Thu C đến huyện N, tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc. Nguyễn Thanh Trúc L và Nguyễn Thị Thu C khai không biết họ tên, địa chỉ của người này, nên Cơ quan An ninh điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ. Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[14] Đối với những người đàn ông Trung Quốc đã đưa Nguyễn Thanh Trúc L, Hạ Dung D1, Nguyễn Thị Thu C, Nguyễn Sỹ T1 nhập cảnh trái phép vào Việt Nam do không biết thông tin và điều kiện lãnh thổ nên Cơ quan An ninh điều tra không có điều kiện xác minh làm rõ. Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[15] Đối với Hạ Dung D1, ngày 04/9/2024 Cơ quan An ninh điều tra đã tiến hành bàn giao Hạ Dung D1 cùng các tài liệu liên quan cho Phòng Q Công an tỉnh L để xử lý theo quy định. Ngày 07/9/2024 Phòng Q đã phối hợp với đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế H1, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh L tiến hành trao trả Hạ Dung D về Trung Quốc. Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[16] Đối với hành vi nhập cảnh trái phép vào Việt Nam của Nguyễn Thị Thu C, Nguyễn Sỹ T1 là qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất nhập cảnh vi phạm quy định tại Điều 18, Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Ngày 05/9/2024 Đồn Biên phòng B, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thị Thu C và Nguyễn Sỹ T1 với số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Ngày 05/9/2024, Nguyễn Thị Thu C và Nguyễn Sỹ T1 đã thi hành xong quyết định xử phạt nói trên. Đồng thời quá trình điều tra xác định Nguyễn Sỹ T1 và Nguyễn Thị Thu C đều chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này, nên Cơ quan An ninh điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Sỹ T1 và Nguyễn Thị C. Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[17] Đề nghị của Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc tại phiên tòa về mức hình phạt đối với bị cáo. Hội đồng xét xử sẽ xem xét và quyết định.

[18] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh Trúc L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[19] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 347; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 135; khoản 1 Điều 293; các điều 331, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Trúc L phạm Tội vi phạm quy định về nhập cảnh trái phép.
  2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Trúc L 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giữ ngày 01/9/2024.
  3. Về xử lý vật chứng:
    1. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh Trúc L 01 (một) hộ chiếu mang tên Nguyễn Thanh Trúc L, 01 (một) căn cước công dân mang tên Nguyễn Thanh Trúc L.
    2. Tịch thu, hóa giá sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh bên trong lắp 01 (một) sim của bị cáo Nguyễn Thanh Trúc L.
  4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh Trúc L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

6

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Phòng ANĐT- Công an tỉnh Lạng Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Đội Tổng hợp Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nông Thị Hà

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2024/HS-ST ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN về hình sự sơ thẩm - tội vi phạm quy định về nhập cảnh trái phép

  • Số bản án: 97/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm - Tội vi phạm quy định về nhập cảnh trái phép
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hồi 11 giờ 20 phút ngày 01/9/2024 tại đường mòn biên giới khu vực mốc 1197 thuộc thôn P, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, Nguyễn Thanh Trúc L đã có hành vi nhập cảnh trái phép vào Việt Nam. Trước đó ngày 16/01/2024, Nguyễn Thanh Trúc L đã vi phạm về hành vi này và Đồn Biên phòng B, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh L xử phạt vi phạm hành chính. Trong biên bản vi phạm hành chính ngày 16/01/2024, Nguyễn Thanh Trúc L đã được người có thẩm quyền giải thích các quy định của pháp luật và bản thân bị cáo cũng thừa nhận việc nhập cảnh trái phép là vi phạm pháp luật, chưa được xoá tiền sự. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học, ngày 01/9/2024 bị cáo lại tiếp tục có hành vi vi phạm nhập cảnh vào Việt Nam qua đường mòn khu vực mốc 1197 thuộc thôn P, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn mà không được phép của cơ quan có thẩm quyền
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger