Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẢI HẬU

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 97/2024/HS-ST

Ngày: 13-11-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH

- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Hòe.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Việt Hùng;

Ông Lưu Văn Đê.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Lại Minh Khôi - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, Toà án nhân dân huyện Hải Hậu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 93/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2024/QĐXXST- HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn D, sinh năm 1995, tên gọi khác: Không; nơi sinh, nơi cư trú: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; nghề nghiệp: Kinh doanh photocopy; trình độ học vấn: Lớp 12/12; con ông Nguyễn Vũ D1, sinh năm 1970 và con bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1975; vợ là chị Nguyễn Thị M1, sinh năm 1995; có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

- Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Quốc N, sinh năm 2006;
  2. Chị Nguyễn Thị M1, sinh năm 1995;
  3. Ông Đỗ Duy M2, sinh năm 1950.

(Có mặt bị cáo, chị M1; vắng mặt anh N, ông M2)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu tháng 5/2024, Nguyễn Văn D thuê nhà ông Đỗ Văn M3 ở xóm E xã H, huyện H để mở cửa hàng kinh doanh dịch vụ Photocopy. Khoảng đầu tháng 7/2024, Nguyễn Văn D sử dụng máy tính cây, vỏ màu đen, bên trong lắp 01 ổ cứng nhãn hiệu Seogate 250GB số S/N W2AEKBC07 và 01 ổ cứng nhãn hiệu Kinh Dian 120 GB số S/N S281151481 kết nối Internet đăng nhập và sử dụng tài khoản Facebook “NGUYỄN DOANH” vào mạng xã hội Facebook. Nguyễn Văn D thấy tài khoản Facebook “Mõn Mũm Mĩm” rao bán giá 100.000đ/01 “Giấy khám sức khoẻ của Công ty cổ phần B” đã có sẵn chữ ký, dấu chức danh của bác sỹ chuyên khoa khám và hình dấu tròn đỏ có dòng chữ “Công ty cổ phần Bệnh viện B”. Doanh nhắn tin với tài khoản Facebook kể trên đặt mua 01 Giấy khám sức khỏe đã có sẵn chữ ký, dấu chức danh của bác sỹ và hình dấu tròn đỏ có dòng chữ “Công ty cổ phần Bệnh viện B”, không có tên người khám. Ngày 09/7/2024, D nhận từ nhân viên giao hàng 01 phong bì thư trong chứa 01 giấy khám sức khỏe D đã nhắn tin đặt mua. P dùng máy ảnh nhãn hiệu NIKON D70S chụp hình dấu tròn đỏ mang tên “Công ty cổ phần Bệnh viện B” đưa lên màn hình máy tính với mục đích khi nào có người cần làm Giấy khám sức khỏe thì dùng hình dấu tròn trên để in giáp lai với ảnh của người làm, dán vào Giấy khám sức khỏe để tránh bị Cơ quan chức năng phát hiện.

Khoảng 18 giờ 10 phút ngày 12/7/2024, anh Nguyễn Quốc N đến cửa hàng kinh doanh dịch vụ Photocopy của Nguyễn Văn D hỏi mua 01 bộ hồ sơ xin việc và bảo D chụp ảnh để hôm sau đi khám sức khỏe. Doanh gợi ý làm giấy khám sức khỏe cho N với giá 250.000đồng; Doanh chụp ảnh chân dung của anh N chuyển lên màn hình máy tính, sử dụng ứng dụng photoshop để chèn một phần góc của hình dấu tròn đỏ mang tên “Công ty cổ phần B” lên vị trí góc phía dưới bên phải ảnh của anh N rồi in ra qua máy in màu và dán vào vị trí ảnh trên Giấy khám sức khỏe đã mua sẵn cho trùng khớp vào hình dấu giáp lai có sẵn. Doanh hỏi và điền các thông tin cá nhân của anh N vào phôi giấy khám sức khỏe mua sẵn đã làm giả dấu tại vị trí dán ảnh. Khi D vừa nhận tiền số tiền 300.000 đồng và lấy 50.000 đồng trả lại cho anh N thì bị tổ công tác Công an huyện H và Công an xã H phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên tay Doanh số tiền 300.000 đồng và 01 giấy khám sức khỏe mà D vừa làm cho anh N. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của Doanh 01 bộ máy vi tính, 01 máy ảnh nhãn hiệu NIKON D70S, 01 máy in màu nhãn hiệu Canon vỏ màu đen.

Tại bản kết luận giám định số 1322/KL-KTHS ngày 20/7/2024, Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

  1. Hình dấu “CÔNG TY CỔ PHẦN BỆNH VIỆN GIAO THÔNG VẬN TẢI” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với hình dấu có cùng nội dung trên mẫu so sánh (ký hiệu M1) không phải do cùng một con dấu đóng ra.
  2. Chữ ký đứng tên BSCK I. Nguyễn Đình T trên mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký đứng tên BSCKI. Nguyễn Đình T trên mẫu so sánh (ký hiệu M1) không phải do cùng một người ký ra.
  3. Không đủ cơ sở kết luận chữ ký đứng tên BSCK I. Lã Thị Q trên mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký đứng tên BSCK I. Lã Thị Q trên mẫu cần so sánh (ký hiệu M1) có phải do cùng một người ký ra hay không.
  4. Chữ viết trên mẫu cần giám định (ký hiệu A) gồm: Chữ viết tại trang 1 trừ chữ viết dưới mục “Người đề nghị khám sức khỏe”; Chữ “12,07,2024” tại trang 3; Chữ viết tại trang 4 so với chữ viết đứng tên Nguyễn Văn D trên mẫu so sánh (ký hiệu M2, M3, M4) là do cùng một người viết ra.

Cáo trạng số 96/CT-VKSHH ngày 18 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thành khẩn khai nhận đã thực hiện hành vi vi phạm như nội dung cáo trạng đã nêu.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu giữ quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn D. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án. Đề nghị trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ và miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Giao bị cáo Nguyễn Văn D cho Ủy ban nhân dân xã H giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo và xử lý vật chứng đã thu giữ, chưa xử lý trong quá trình điều tra.

Tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo không tranh luận.

Nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 12/7/2024, tại cửa hàng K1 ở xóm E, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định, Nguyễn Văn D đã có hành vi làm giả 01 giấy khám sức khỏe của Bệnh viện B bán cho Nguyễn Quốc N với giá 250.000đồng thì bị Công an huyện H phối hợp Công an xã H phát hiện bắt quả tang vào lúc 18 giờ 10 phút cùng ngày. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó không những trực tiếp xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội nghề nghiệp trong hoạt động quản lý mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo để phòng ngừa chung.

[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo Nguyễn Văn D chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt. Trong vụ án này, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi về hành vi đã thực hiện nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo D nhiều năm liền là Bí thư chi đoàn xóm có thành tích xuất sắc trong công tác đoàn tại địa phương được Huyện đoàn tặng “Giấy khen” nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng; quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thành khẩn khai báo. Từ trước đến nay, bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương, không có biểu hiện vi phạm pháp luật mới, đã thực sự hối cải, có khả năng tự cải tạo và không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Hội đồng xét xử xét thấy không nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương như đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo tại phiên tòa cũng đảm bảo được mục đích của hình phạt. Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

[6] Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét bị cáo D hiện đang phải nuôi 02 con nhỏ, hoàn cảnh kinh tế khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về vật chứng:

- Anh N mua 01 giấy khám sức khỏe của bị cáo với giá 250.000đ nhưng không có tiền lẻ nên đưa cho bị cáo số tiền 300.000đ thì bị thu giữ. Xét số tiền 250.000đ là số tiền giao dịch bất hợp pháp nên cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước. Số tiền dư 50.000đ là tiền hợp pháp của anh N nhưng anh N không nhận lại nên cũng cần sung Ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 (Một) cây máy tính, vỏ màu đen có gắn mác “Công ty Đ”; bên trong có lắp 01 (Một) ổ cứng nhãn hiệu Seogate 250GB có số S/N W2AEKBC07 và 01 (Một) ổ cứng nhãn hiệu Kinh Dian 120GB có số S/N S281151481, được hoàn trả sau khi có bản kết luận giám định số 1322/KL-KTHS ngày 20/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh N; 01 (Một) máy ảnh nhãn hiệu NIKON D70S, MADE IN THAI LAN, NKRD70S(B), mã D33679-N150, đã qua sử dụng; 01 (Một) máy in màu nhãn hiệu Canon, vỏ màu đen, serian No: ADHA81785, đã qua sử dụng; 01 (Một) màn hình nhãn hiệu Sam sung 19 in, số MRB5HYCDC05618K. Xét đây là những tài sản hợp pháp của bị cáo D nhưng bị cáo D sử dụng làm công cụ liên lạc, phục vụ cho việc làm giấy khám sức khoẻ giả để bán cho anh N ngày 12/7/2024 nên cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước.

[7] Anh Nguyễn Quốc N đến cửa hàng của D hỏi mua hồ sơ xin việc và chụp ảnh nhưng không biết D làm giả giấy khám sức khỏe nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với N là phù hợp. Người bán phôi giấy khám sức khỏe và người đàn ông khoảng 30 tuổi giao phong bì thư cho D, do D không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể thể nên không có căn cứ xác minh, xử lý.

[8] Bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự:

1.1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức".

1.2. Xử phạt Nguyễn Văn D 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ; bị cáo được trừ 09 ngày tạm giam (từ ngày 12/7/2024 đến ngày 21/7/2024) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ; bị cáo còn phải chấp hành 14 (mười bốn) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện H, tỉnh Nam Định nhận được quyết định thi hành án. Miễn khấu trừ thu nhập và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với cho bị cáo Nguyễn Văn D. Giao bị cáo cho UBND xã H, huyện H, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã H trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt.

Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.

2. Căn cứ điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” của Tòa án nhân dân nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định đối với bị cáo Nguyễn Văn D.

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: Số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng); 01 (Một) cây máy tính, vỏ màu đen có gắn mác “Công ty Đ”; bên trong có lắp 01 (Một) ổ cứng nhãn hiệu Seogate 250GB có số S/N W2AEKBC07 và 01 (Một) ổ cứng nhãn hiệu Kinh Dian 120GB có số S/N S281151481, được hoàn trả sau khi có bản kết luận giám định số 1322/KL-KTHS ngày 20/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh N; 01 (Một) máy ảnh nhãn hiệu NIKON D70S, MADE IN THAI LAN, NKRD70S(B), mã D33679-N150, đã qua sử dụng; 01 (Một) máy in màu nhãn hiệu Canon, vỏ màu đen, serian No: ADHA81785, đã qua sử dụng; 01 (Một) màn hình nhãn hiệu Sam sung 19 in, số MRB5HYCDC05618K.

Các vật chứng nêu trên được mô tả trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/11/2024 giữa Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu và biên lai thu tiền số 0002293 ngày 12/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn D được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh;
  • - VKSND huyện;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Công an huyện Hải Hậu;
  • - Chi cục THA DS huyện;
  • - UBND xã Hải Phong;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Vp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Ngô Thị Hòe

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự (làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức)

  • Số bản án: 97/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn D phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger