TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 97/2024/HS-ST Ngày 23-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hồng Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Ngọc Thạch;
- Bà Thị A MiNa.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Tuyết Nhung –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trung Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 96/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Hồ Khánh T, sinh ngày 02/12/1994 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: Ấp C, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Khánh T và bà Nguyễn Thị T; bị cáo có vợ tên Phạm Thị H; tiền án: Bản án số 70/2022/HS- ST ngày 07/10/2022 của Toà án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Khánh T 06 tháng tù, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/02/2023; tiền sự: Không có; nhân thân: Tại quyết định số 26/QĐ-TA ngày 13/4/2017 của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 15 tháng, chấp hành xong ngày 21/4/2018; tại quyết định số 63/QĐ-TA ngày 27/6/2019 của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 09/7/2020; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/4/2024 đến ngày 24/4/2024 chuyển sang tạm giam cho đến nay, có mặt.
2. Nguyễn Anh D, sinh ngày 03/02/1984 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Không xác định; nơi tạm trú: Không có; nơi cư trú hiện nay: Ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành Đ (đã chết) và bà Phạm Thị N; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Ánh H và 01 con; Tiền án: Có 01 tiền án, Bản án số 21/2023/HS- ST ngày 13/4/2023 của Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Anh D 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/3/2024; tiền sự: Có 01 tiền sự: Quyết định số 27/QĐ- TA ngày 13/5/2022 của Toà án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Anh D thời hạn 15 tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đến ngày 12/02/2023, Nguyễn Anh D trốn khỏi cơ sở cai nghiện ma tuý (chưa chấp hành xong); nhân thân: ngày 20/7/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 5.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/4/2024 đến ngày 24/4/2024 chuyển sang tạm giam cho đến nay, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Đỗ Thị Thảo N, sinh năm: 1993, nơi cư trú: Ấp N, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy, vào khoảng 07 giờ 00 phút ngày 14/4/2024, Hồ Khánh T điện thoại cho người tên “Đ” khoảng 35 tuổi (không rõ họ tên, địa chỉ) hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy. Sau khi mua được ma túy, T điều khiển mô tô biển số 61N6- 4937 đến nhà Nguyễn Anh D, rủ D đến phòng trọ số 7, nhà nghỉ “T”, thuộc ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh, do T thuê trước đó để sử dụng trái phép chất ma túy. Tại phòng trọ số 7, T lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đã chuẩn bị trước đó ra và đổ một ít ma túy mà T vừa mua vào nỏ thủy tinh tổ chức cho D và T cùng sử dụng. Số ma túy còn lại bên trong bịch nylon, T hàn kín lại, bỏ vào bên trong vỏ bao thuốc lá hiệu Jet rồi cất giấu vào túi quần bên trái phía trước đang mặc. Sau khi cùng với D sử dụng ma túy xong, số ma túy chưa sử dụng hết còn lại trong bộ dụng cụ sử dụng Trung cất giấu trong phòng số 7. Lúc này, D điện thoại rủ Đỗ Thị Thảo N, sinh năm: 1993, ngụ: ấp N, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh, đến phòng số 7, nhà nghỉ “T” để sử dụng ma túy, N đồng ý. Sau đó, T chở D đi ăn cơm, sau khi ăn cơm T chở D về phòng trọ số 7, nhà nghỉ “T” rồi T đi về nhà của mình. Khoảng 11 giờ 10 phút cùng ngày, khi D vào phòng trọ số 7, nhà nghỉ “T”, thì thấy N đã đến và đang ngồi chờ trong phòng, D lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy mà T cất giấu trước đó ra tổ chức cho N và D cùng sử dụng, sau khi sử dụng xong N đi về nhà. Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, D điện thoại rủ N đến phòng trọ số 7, nhà nghỉ “T” để tiếp tục sử dụng ma túy. Sau khi N đến phòng trọ số 7, nhà nghỉ “T”, thì D tiếp tục lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy trước đó ra tổ chức cho N và
D cùng sử dụng. Đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, khi T đến phòng trọ số 7, nhà nghỉ “T” thì bị lực lượng Công an xã H kiểm tra phát hiện D, T có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra, còn phát hiện bịch ma túy trong người của T, nên tiến hành lập biên bản thu giữ vật chứng và mời D, T và N vê trụ sở Công an xã H làm việc.
Hồ Khánh T đã bị kết án về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Nguyễn Anh D đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích, nên lân phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm.
Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể ngày 14/4/2024 đối với Đỗ Thị Thảo N, Nguyễn Anh D, Hồ Khánh T, thể hiện: N, D, T dương tính với ma túy, loại Methamphetamine.
Kết luận giám định số 743/KL- KTHS, ngày 22/4/2024, của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Mẫu chất tinh thể rắn màu nâu (ký hiệu M1) bên trong 01 cái nỏ thủy tinh gửi giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; Khối lượng 0,0549 gam, đã sử dụng hết trong công tác giám định. Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M2) bên trong 01 bịch nylon được hàn kín gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; Khối lượng 0,9636 gam, sau giám định còn lại 0,8484 gam.
Kết luận giám định số 1317/KL-KTHS ngày 12/7/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận:
- Xe YAMAHA, màu sơn đen, số khung RLCS16S40BY014652, số máy 16SB-018358, số khung và số máy không bị đục xoá.
- Xe YAMAHA Exciter, màu sơn xám, số khung RLCE1S9A0DY054405, số máy 1S9A-054415, số khung và số máy không bị đục xoá.
Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng:
- 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 743/gói 1, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện, Trợ lý giám định Lê Đức Trọng và dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, bên trong có 01 (một) cái nỏ thuỷ tinh không chứa gì.
- 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 743/gói 2, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện, Trợ lý giám định Lê Đức Trọng và dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, bên trong có 01 (một) bịch nylon chứa chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M2) là Methamphetamine, có khối lượng 0,8484 gam (không phẩy tám bốn tám bốn gam).
- - 01 (một) bình nhựa.
- - 01 (một) nắp nhựa.
- - 04 (bốn) hộp quẹt gas.
- - 04 (bốn) đoạn ống hút nhựa.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, số sêri 1: 3200801.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, số IMEI 1: 03312019/01.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, số IMEI 1: 949718.
- 01 (một) xe mô tô biển số 61N6-4937, số khung RLCS16S40BY014652, số máy 16SB-018358 đã chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xử lý theo quy định.
01 (một) xe mô tô biển số 70K1-227.81, số khung RLCE1S9A0DY054405, số máy 1S9A-054415 đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Thành N.
Qua xác minh thể hiện: Nguyễn Anh D, Hồ Khánh T không có tài sản, nên không tiến hành kê biên.
Bản Cáo trạng số 98/CT-VKSTC, ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Hồ Khánh T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Anh D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Anh D khai bị cáo không xin phép, không hỏi ý kiến bị cáo Hồ Khánh T khi rủ chị Đỗ Thị Thảo N đến phòng trọ để sử dụng trái phép ma tuý.
Bị cáo Hồ Khánh T khai không biết về việc bị cáo Nguyễn Anh D rủ chị N đến phòng trọ sử dụng trái phép chất ma tuý, tại thời điểm bị cáo D và chị N sử dụng trái phép chất ma tuý bị cáo T không có mặt tại phòng trọ nên bị cáo không đồng ý việc bị truy tố theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hồ Khánh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Anh D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ các điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Hồ Khánh T mức án từ 08 năm tù đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Hồ Khánh T mức án từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt cả hai tội danh đối với bị cáo Hồ Khánh T.
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh D mức án từ 08 năm tù đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo do hai bị cáo không có tài sản.
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Anh D thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, không có ý kiến tranh luận. Bị cáo Hồ Khánh T không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Chứng cứ xác định các bị cáo có tội:
[2.1] Vào sáng ngày 14/4/2024, tại phòng trọ số 7 nhà nghỉ “T”, thuộc ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Hồ khánh T có hành vi cung cấp ma tuý, địa điểm, dụng cụ sử dụng và rủ rê bị cáo Nguyễn Anh D đến để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý 01 lần.
Đến khoảng 11 giờ cùng ngày 14/4/2024, sau khi bị cáo Hồ Khánh T chở bị cáo D quay về nhà trọ và bị cáo T về nhà ngủ thì bị cáo Nguyễn Anh D gọi điện rủ rê chị Đỗ Thị Thảo N đến để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý 02 lần tại phòng trọ số 7 nhà nghỉ “T”, thuộc ấp Đ, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Mặc dù thời điểm bị cáo D tổ chức sử dụng ma túy tại phòng bị cáo T không có mặt nhưng phòng trọ là do bị cáo T thuê, ma túy sử dụng do bị cáo T cung cấp; bị cáo Trung chở bị cáo D quay trở lại phòng trọ và trước đó bị cáo T đã tổ chức cho bị cáo D sử dụng trái phép chất ma tuý nên bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo D.
Do đó, có đủ cơ sở xác định hành vi của các bị cáo Hồ Khánh T, Nguyễn Anh D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình hạt “Phạm tội 02 lần trở lên” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
[2.2] Về tình tiết định khung hình phạt “Đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Hồ Khánh T, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại thời điểm bị cáo Nguyễn Anh D 02 lần tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với Đỗ Thị Thảo N, bị cáo T không có mặt tại phòng trọ. Bị cáo T trình bày không biết về việc bị cáo D tổ chức sử dụng ma túy với người khác. Tại phiên toà bị cáo D xác định bị cáo không xin phép và không nói với bị cáo T về việc bị cáo đưa chị N đến để phòng trọ để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Chị N trình bày không biết số ma túy bị cáo D sử dụng cùng mình có nguồn gốc ở đâu. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ buộc tội bị cáo T về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với tình tiết định khung hình phạt “Đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự như bản Cáo trạng đã truy tố.
[2.3] Đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, khi bị cáo T đến phòng trọ số 7, nhà nghỉ “T” thì bị lực lượng Công an xã H kiểm tra phát hiện trong người của Trung 01 bịch ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,9636 gam; số ma tuý còn lại trong nỏ thuỷ tinh các bị cáo đã sử dụng là 0,0549 gam. Do đó, hành vi của T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Bản cáo trạng số 98/CT-VKSTC ngày 05/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với các bị cáo Hồ Khánh T, Nguyễn Anh D với tội danh “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Hồ Khánh T với tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Đối với nội dung truy tố bị cáo Hồ Khánh T với tội danh “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là không có căn cứ, Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[4] Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo Hồ Khánh T, Nguyễn Anh D là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, nên phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của mình gây ra.
[5] Khi quyết định hình phạt, cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
[5.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Anh D, Hồ Khánh T đã bị kết án, chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự
[5.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Hồ Khánh T, Nguyễn Anh D thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tự thú ra các lần phạm tội trước đó nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo Hồ Khánh T có bác ruột là liệt sĩ nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[6] Xét mức độ phạm tội và hình phạt chính đối với các bị cáo:
Bị cáo T là người mua ma tuý về, thuê địa điểm và rủ rê bị cáo D tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên cần xử bị cáo T mức án mức án nghiêm khắc và cao hơn bị cáo D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Bị cáo T phải chịu mức án tương xứng với hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng các bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy, có nhân thân xấu, nhiều lần thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, nên cần áp dụng hình phạt chính là tù có thời hạn về hai tội danh đối với bị cáo T và áp dụng hình phạt chính là tù có thời hạn đối với tội danh của bị cáo D, nhằm cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục các bị cáo thành công dân tốt và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của cả hai tội danh đối với các bị cáo T.
[7] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Hồ Thanh T và Nguyễn Anh D không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản riêng, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Xử lý vật chứng:
01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 743/gói 1, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện, Trợ lý giám định Lê Đức Trọng và dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, bên trong có 01 (một) cái nỏ thuỷ tinh không chứa gì; 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 743/gói 2, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện, Trợ lý giám định Lê Đức Trọng và dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, bên trong có 01 (một) bịch nylon chứa chất tinh thể rắn màu trắng (Ký hiệu M2) là Methamphetamine, có khối lượng 0,8484 gam (không phẩy tám bốn tám bốn gam); 01 (một) bình nhựa; 01 (một) nắp nhựa; 04 (bốn) hộp quẹt gas; 04 (bốn) đoạn ống hút nhựa là ma tuý và công cụ sử dụng trái phép chất ma tuý nên cần tịch thu tiêu huỷ.
01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, số sêri 1: 3200801 của bị cáo Nguyễn Anh D dùng để liên lạc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nên cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.
01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, số IMEI 1: 949718 của bị cáo Hồ Khánh T dùng để liên lạc mua ma tuý về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nên cần tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.
01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, số IMEI 1: 03312019/01 của chị Đỗ Thị Thảo N không liên quan đến việc thực hiện tội phạm nên cần tuyên trả cho chị N.
[9] Đối với Đỗ Thị Thảo N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện Tân Châu chuyển hồ sơ cho công an xã Tân Hưng để xử lý theo thẩm quyền là đúng quy định của pháp luật.
Đối với người tên “Đ” có hành vi bán ma túy cho bị cáo T do chưa xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể, khi nào xác định được và có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
[10] Về án phí: Các bị cáo Hồ Khánh T, Nguyễn Anh D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Hồ Khánh T 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Hồ Khánh T 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự: tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Hồ Khánh T phải chấp hành chung cho cả hai tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là 10 (mười) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15-4-2024.
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh D 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15-4-2024.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ:
- 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 743/gói 1, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện, Trợ lý giám định Lê Đức Trọng và dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, bên trong có 01 (một) cái nỏ thuỷ tinh không chứa gì;
- 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 743/gói 2, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn Nguyện, Trợ lý giám định Lê Đức Trọng và dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, bên trong có 01 (một) bịch nylon chứa chất tinh thể rắn màu trắng (Ký hiệu M2) là Methamphetamine, có khối lượng 0,8484 gam (không phẩy tám bốn tám bốn gam)
- 01 (một) bình nhựa.
- 01 (một) nắp nhựa.
- 04 (bốn) hộp quẹt gas.
- 04 (bốn) đoạn ống hút nhựa.
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, số sêri 1: 3200801 của bị cáo Nguyễn Anh D.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, số IMEI 1: 949718 của bị cáo Hồ Khánh T.
Trả cho chị Đỗ Thị Thảo N:
01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, số IMEI 1: 03312019/01.
(Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/9/2024).
- Về án phí: Căn cứ các Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Bị cáo Hồ Khánh T, Nguyễn Anh D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Hồng Hà |
Bản án số 97/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 97/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
