Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2024/HS-ST

Ngày: 10/9/2024

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy K

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đinh Thị Đ

2. Ông Lương Minh C

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nông Thị Lê N - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lã Thị Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 09 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 93/2024/TLST-HS, ngày 29 tháng 08 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/HSST - QĐ, ngày 29 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Đức L; Giới tính: Nam;

Sinh ngày: 17/4/1994;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh;Tôn giáo: Công giáo; Trình độ văn hoá: 07/12; Nghề nghiệp: Không; Bố: Vũ Đức H (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị K, sinh năm 1956; Vợ: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1998; có 01 con, sinh năm 2022; Gia đình bị cáo có 06 anh em, bị cáo là con thứ sáu.

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh T - Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1965 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: xóm G, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1998 (có mặt)

Địa chỉ: TDP Đ, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

2. Ông Bùi Văn H1, sinh năm 1967 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

3. Anh Nguyễn Hồng P, sinh năm 1994 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: TDP Đ, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

4. Ông Phạm Văn O, sinh năm 1968 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: TDP A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

5. Anh Nguyễn Đại L2, sinh năm 1983 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: TDP C, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Đức L là đối tượng nghiện ma tuý và không có nghề nghiệp ổn định. Khoảng 08 giờ 40 phút ngày 10/6/2024, L một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, BKS 20F1 - 424.69 (Sau xác định là xe mô tô của chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1998, trú tại TDP Đ, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, là vợ của L) đi từ nhà trọ của L thuộc khu vực phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên trên đường T để về nhà tại thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Khi L điều khiển xe mô tô đi đến khu vực xóm G, xã T, huyện Đ thì L phát hiện thấy nhà dân bên rìa đường không có ai ở nhà (Sau xác định là nhà của ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1965, thuộc xóm G, xã T, huyện Đ). L đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của nhà ông S mang bán lấy tiền mua ma tuý sử dụng cho bản thân. Lúc này, L đứng trước cổng nhà ông S thì phát hiện thấy 02 thanh kim loại hình hộp và 01 tấm kim loại bằng sắt nên L đã lấy 02 thanh kim loại bằng sắt và 01 tấm kim loại mang đến bán cho ông Bùi Văn H1 (sinh năm 1967, trú tại xóm T, xã T, huyện Đ) lấy số tiền 200.000 đồng. Sau đó L điều khiển xe mô tô đi đến nhà anh Nguyễn Hồng P (sinh năm 1994, trú tại TDP Đ, Thị trấn H, huyện Đ) để mượn của P 01 chiếc xà cầy và 01 chiếc dùi đục mục đích quay lại nhà ông S để tiếp tục trộm cắp tài sản. Khi quay lại nhà ông S, L dùng xà cầy và dùi đục cậy cửa chính nhà ông S. Sau khi mở được cửa, L đi vào khu vực bếp nhà ông S lấy 02 lõi nồi cơm điện, 03 chiếc nồi bằng nhôm, 01 chiếc chảo chống dính cho vào 01 chiếc túi bằng vải màu đen rồi L tháo vòi dẫn gas, vác bình gas cùng túi vải đựng xoong nồi ra bên ngoài. Khi L mang túi đồ ra gần đến phòng khách thì túi đựng đồ đựng xoong nồi bị rách nên L vứt túi đồ đựng xoong nồi xuống nền nhà ông S. Lúc này, L tiếp tục quan sát thì thấy trong góc phòng khách nhà ông S có 01 chiếc tivi nhãn hiệu Casper. L liền ôm lấy chiếc tivi và bình gas lên yên xe mô tô của L. Sau khi trộm cắp được tài sản L điều khiển xe mô tô chở chiếc bình ga đến bán cho ông Phạm Thanh O1 (sinh năm 1968, trú tại TDP A, thị trấn H, huyện Đ) lấy 200.000 đồng còn chiếc ti vi thì L mang đến bán cho anh Nguyễn Đại L2 ( sinh năm 1983, trú tại TDP C, thị trấn H, huyện Đ) lấy 50.000 đồng. Sau khi bán được tài sản có tiền, L mang chiếc xà cầy, dùi đục trả cho anh P rồi đi đến khu vực TDP Đ, Thị trấn H, huyện Đ mua ma tuý sử dụng cho bản thân hết.

Về phía ông Nguyễn Văn S, sau khi phát hiện bị trộm cắp tài sản đã làm đơn trình báo sự việc đến Công an xã T, huyện Đ đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Xét thấy vụ việc có dấu hiệu của tội phạm nên Công an xã T, huyện Đ đã tiến hành xác minh làm rõ người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của ông Nguyễn Văn S là Vũ Đức L và chuyển toàn bộ hồ sơ, đối tượng đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại cơ quan điều tra, Vũ Đức L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình như đã nêu ở trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án gồm:

Tại Kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐGTS ngày 14/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận tại thời điểm tháng 06/2024:

  • + 01 chiếc ti vi nhãn hiệu Casper, loại 43 inch có giá trị là 3.000.000 đồng
  • + 01 vỏ bình gas, vỏ màu xanh, nhãn hiệu BẮC THÁI GAS, không rõ thời gian có giá trị định giá là 200.000 đồng.
  • + 02 thanh kim loại bằng sắt, hình hộp có giá trị là 64.400 đồng.
  • + 01 tấm kim loại bằng sắt đã cũ, hoen rỉ có giá trị là 165.600 đồng.
  • + 03 chiếc nồi bằng nhôm có giá trị là 46.000 đồng.
  • + 02 lõi nồi cơm điện có giá trị là 36.000 đồng.
  • + 01 chảo bằng gang có giá trị là 6.900 đồng.

Như vậy tổng giá trị tài sản mà L trộm cắp nhà ông S có giá trị là 3.429.400 đồng.

  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ, BKS 20F1 – 424.69
  • - 01 đầu tay cầm tuốc nơ vít, 01 đầu tuốc nơ vít hai cạnh và 01 đầu tuốc nơ vít bốn cạnh (niêm phong vào phong bì ký hiệu M1).
  • - 01 chiếc dùi đục dài 17,5cm, bằng kim loại màu đen, một đầu bẹt.
  • - 01 chiếc xà cầy bằng kim loại màu đen, dài 70 cm, một đầu được bẻ cong.
  • - 01 mũ bảo hiểm, loại mũ nửa đầu, màu vàng, khoét lỗ phía sau, bên ngoài in chữ “THẾ GIỚI MẸ BÉ HÀ SỮA” thu giữ của L.

Hiện những vật chứng nêu trên đang được bảo quản, lưu giữ tại Kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý.

Về phần trách nhiệm dân sự: ông Nguyễn Văn S không có yêu cầu đề nghị gì đối với Vũ Đức L.

Bản cáo trạng số 95/CT-VKSĐT ngày 26/08/2024 của Viện kiểm sát nhân huyện Đ đã truy tố bị cáo Vũ Đức L phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.

Kết thúc phần tranh tụng, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng, đã luận tội đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Đức L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS, điểm i, s khoản 1, Điều 38 của BLHS năm 2015; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Đức L từ 12 đến 15 tháng tù. Buộc bị cáo nộp số tiền 450.000đ thu lời bất chính vào ngân sách nhà nước. Xử lý vật chứng theo quy định. Không xem xét giải quyết phần dân sự trong vụ án này.

Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định nộp ngân sách Nhà nước.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận việc truy tố và xét xử là đúng người, đúng tội, không oan sai. Bị cáo không có tranh luận gì, bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại lời khai của những người làm chứng, và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, Kết luận định giá tài sản ...

Hội đồng xét xử có thể kết luận: Khoảng 08 giờ 40 phút ngày 10/6/2024, tại gia đình ông Nguyễn Văn S thuộc xóm G, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của ông S, Vũ Đức L đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là ti vi, vỏ bình ga, thanh kim loại của gia đình ông S có tổng giá trị là 3.429.400 đồng.

Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực pháp luật. Như vậy, hành vi của bị cáo Vũ Đức L nêu trên đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Nội dung điều luật quy định như sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ từ 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3]. Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng nhưng gây nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà cụ thể trong vụ án này là tài sản của gia đình ông Nguyễn Văn S. Hành vi đó còn làm mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương.

[4]. Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[5]. Xét tình tiết tiết giảm nhẹ TNHS thì thấy: Bị cáo phạm tội làn đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS.

[6]. Xét nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự nhưng bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo không tu trí làm ăn, đua đòi ham chơi dẫn đến nghiện ma túy nên lao vào con đường phạm tội thể hiện lỗi cố ý trực tiếp, vì vậy cần phải có hình phạt phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.

[7]. Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo mức án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, có như vậy mới đủ điều kiện để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội đồng thời mang tính phòng ngừa chung là phù hợp.

[8]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[9].Về phần trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Nguyễn Văn S đã nhận lại tài sản; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10]. Về vật chứng:

  • - Số tiền bị cáo bán tài sản trộm cắp mà có được 450.000đ đây là tiền do bị cáo thu lời bất chính, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và bị hại không đề nghị bị cáo bồi thường nên cần buộc bị cáo nộp số tiền trên vào ngân sách là phù hợp.
  • - 01 chiếc ti vi nhãn hiệu Casper, loại 43inhch; 01 vỏ bình gas, vỏ màu xanh, nhãn hiệu BẮC THÁI GAS; 02 thanh kim loại bằng sắt, hình hộp, 01 tấm kim loại bằng sắt đã cũ, hoen rỉ; 03 chiếc nồi cơm bằng nhôm; 02 lõi nồi cơm điện bằng hợp kim nhôm; 01 chảo bằng gang tráng men chống dính là tài sản của ông Nguyễn Văn S do L trộm cắp nên cần trả lại cho ông S.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ, BKS 20F1 - 424.690 và 1 mũ bảo hiểm, loại mũ nửa đầu, màu vàng khoét lỗ phía sau, bên ngoài in chữ: “THẾ GIỚI MẸ BÉ HÀ SỮA” là xe và mũ bảo hiểm của chị L1, chị L1 không biết L mượn xe để đi trộm cắp tài sản nên cần trả lại cho chị L1 chiếc xe và mũ bảo hiểm là phù hợp.
  • - 01 chiếc dùi đục dài 17,5cm bằng kim loại màu đen một đầu bẹt; 01 chiếc xà cầy bằng kim loại màu đen, dài 70cm, một đầu được bẻ cong là tài sản của anh Nguyễn Hồng P, anh P không biết L mượn đi trộm cắp tài sản nên cần trả lại cho anh P là phù hợp.
  • - 01 đầu tay cầm tuốc nơ vít, 01 đầu tuốc nơ vít hai cạnh và 01 đầu tuốc nơ vít bốn cạnh (niêm phong vào phong bì ký hiệu M1) thu giữ của bị cáo không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.

[11]. Liên quan đến vụ án có:

  • + Ông Nguyễn Văn S khai nhận còn bị mất số tiền 07 triệu đồng để trong ngăn tủ quần áo kê trong buồng ngủ. Quá trình điều tra xác định L không thừa nhận hành vi trộm cắp tiền của ông S, ngoài lời khai của ông S thì không có căn cứ xác định L hay đối tượng nào khác trộm cắp số tiền trên của ông S nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
  • + Vũ Đức L có hành vi đi vào khu vực bếp nhà ông S lấy 02 lõi nồi cơm điện, 03 chiếc nồi bằng nhôm, 01 chiếc chảo chống dính cho vào 01 chiếc túi bằng vải màu đen có tổng giá trị theo định giá là 88.900 đồng. Tuy nhiên sau đó L đã để số tài sản trên tại nền nhà ông S nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với L đối với số tài sản này.
  • + Ông Bùi Văn H1, Phạm Thanh O1, anh Nguyễn Đại L2 đã mua lại tài sản do L trộm cắp của nhà ông S. Chị Nguyễn Thị L1 là người cho L mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Vision, BKS 20F1 – 424.69 và anh Nguyễn Hồng P cho L mượn 01 chiếc xà cầy bằng sắt và 01 chiếc dùi đục bằng sắt để L thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra xác định khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và bán tài sản trộm cắp thì L không nói còn ông H1, ông O1, anh L2, chị L1, anh P không biết L thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với ông H1, anh L2, chị L1, anh P.
  • + Ngoài ra L khai nhận L nhìn thấy hai người đàn ông cậy cửa chính nhà ông S (L không biết lai lịch và địa chỉ) trước khi L vào nhà ông S trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra xác định ngoài lời khai của L thì không còn tài liệu nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra Công an huyện Đ không có căn cứ để xem xét xử lý đối với hai người đàn ông này.

[12]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS năm 2015; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • * Tuyên bố: Bị cáo Vũ Đức L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • * Xử phạt: Bị cáo Vũ Đức L 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 14/6/2024. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc Thi hành án.
  • - Hình phạt bổ sung (phạt tiền): Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
  • * Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
  • * Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.
  • - Buộc bị cáo L nộp 450.000đ tiền thu lời bất chính vào ngân sách nhà nước.
  • - Trả ông Nguyễn Văn S: 01 chiếc ti vi nhãn hiệu Casper, loại 43inhch; 01 vỏ bình gas, vỏ màu xanh, nhãn hiệu BẮC THÁI GAS; 02 thanh kim loại bằng sắt, hình hộp, 01 tấm kim loại bằng sắt đã cũ, hoen rỉ; 03 chiếc nồi cơm bằng nhôm; 02 lõi nồi cơm điện bằng hợp kim nhôm; 01 chảo bằng gang tráng men chống dính.
  • - Trả chị Nguyễn Thị L1: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ , BKS 20F1 – 424.690 và 1 mũ bảo hiểm, loại mũ nửa đầu, màu vàng khoét lỗ phía sau, bên ngoài in chữ: “THẾ GIỚI MẸ BÉ HÀ SỮA” .
  • - Trả anh Nguyễn Hồng P: 01 chiếc dùi đục dài 17,5cm bằng kim loại màu đen một đầu bẹt; 01 chiếc xà cầy bằng kim loại màu đen, dài 70cm, một đầu được bẻ cong.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 đầu tay cầm tuốc nơ vít, 01 đầu tuốc nơ vít hai cạnh và 01 đầu tuốc nơ vít bốn cạnh (niêm phong vào phong bì ký hiệu M1).
  • * Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Bị cáo Vũ Đức L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

* Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản sao bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an huyện Đại Từ (3b);
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND huyện Đại Từ;
  • - Chi cục THADS huyện Đại Từ;
  • - Thi hành án hình sự (2b);
  • - Bị cáo, bị hại, NLQ (4b);
  • - TB cho UBND TT Hùng Sơn;
  • - Lưu hồ sơ + VT.

T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Duy Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 97/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Đức Lực - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger