Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BÀ RỊA

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 97/2024/HS-ST

Ngày: 09/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA,

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà : Bà Chu Thị Thanh Tâm

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Công

2. Bà Nguyễn Thị Thọ

Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Lý – Kiểm sát viên

Trong các ngày 08 và 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 83/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H

sinh ngày 11/9/1990 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; chỗ ở: 5 T, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Viết H1 (đã chết) và bà Trần Thị P, sinh năm 1963; Có vợ tên Phạm Thị H2, sinh năm 1998 (đã ly hôn) và 03 con, lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2022. Hiện đang sống chung như vợ chồng với Cao Thị T.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1971, địa chỉ: 1 B, khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 07/11/2023, Công an phường L, thành phố B nhận được tin báo của bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1971, HKTT: 16/32 B, khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về việc tại cửa hàng của bà ở địa chỉ B V, khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bị Nguyễn Văn H cùng 02 người đàn ông đến đòi nợ gây mất an ninh trật tự. Sau khi nhận được tin báo, Công an phường L đã xuống giải quyết vụ việc và mời bà H3 cùng H về phường làm việc. Quá trình làm việc, tại Công an phường L, Nguyễn Văn H khai: Vào tháng 10/2022 có cho bà Nguyễn Thị H3 vay số tiền 50.000.000 đồng với lãi suất 10%/tháng. Bà H3 trả được 72.000.000 đồng thì bà H3 xin trả gốc và không đóng lãi nữa thì H đồng ý. Sau đó, H đã nhiều lần liên lạc điện thoại với bà H3 để đòi lại số tiền gốc đã cho vay nhưng bà H3 thất hứa nên vào đêm ngày 02/11/2023, H cùng 03 người nữa đi từ thành phố V qua nhà bà H3 ở địa chỉ 1 B, khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để tạt mắm tôm và sơn vào nhà bà H3 với mục đích ép bà H3 trả tiền nhưng bà H3 vẫn không chịu trả tiền; đến chiều ngày 07/11/2023, H cùng với 02 đối tượng tên H và Tuấn A (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đến cửa hàng của bà H3 ở B V, phường L, thành phố B để đòi tiền thì bà H3 báo công an phường giải quyết.

Tang vật thu giữ gồm 01 (một) điện thoại di động hiệu Redme màu đen của Nguyễn Văn H, trong ứng dụng Zalo có tin nhắn của H và bà Nguyễn Thị H3 về nội dung trả lãi, đòi nợ.

Tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Văn H, Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan đến hoạt động cho vay nặng lãi. H khai nhận, ngoài bà H3, H không cho ai khác vay tiền lấy lãi.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, ban đầu, H khai nhận hành vi cho bà Nguyễn Thị H3 vay số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng, lãi suất thỏa thuận 10%/tháng tương ứng với việc mỗi tháng, bà H3 phải trả cho H tiền lãi là 5.000.000 (năm triệu) đồng. Khi cho vay, cả hai không thỏa thuận về thời hạn vay, chu kỳ trả lãi, thời hạn thanh toán. Đến tháng 10/2023, bà H3 đã trả cho H 72.000.000 (bảy mươi hai triệu) đồng bằng hình thức vừa chuyển khoản, vừa thanh toán tiền mặt. Tháng 10/2023, do không còn khả năng trả lãi nên bà H3 xin trả gốc và H đồng ý nhưng bà H3 không thực hiện đúng cam kết nên dẫn đến sự việc ngày 07/11/2023. Lời khai của Nguyễn Văn H phù hợp với lời khai của bà Nguyễn Thị H3. Sau đó, H thay đổi lời khai, cho rằng trong số tiền 72.000.000 đồng đã nhận của bà H3 có tiền liên quan đến giao dịch đặt cọc mua bán đất ngày 04/01/2022 (bà Thái Thị H4 là người trực tiếp giao dịch, đứng tên ký hợp đồng). Cơ quan CSĐT đã triệu tập và làm việc với bà Lê Thúy A1, bà Thái Thị H4, bà Tạ Thị T1 và bà Nguyễn Thị H3 là những người liên quan đến giao dịch đặt cọc mua bán đất; tiến hành đối chất giữa bà Nguyễn Thị H3 và bà Thái Thị H4; đối chất giữa bà Nguyễn Thị H3 và Nguyễn Văn H; giữa bà Thái Thị H4 và Nguyễn Văn H. Kết quả: Bà Lê Thúy A1 là người làm chứng, môi giới trung gian trong giao dịch đặt cọc mua bán đất trình bày biết việc Nguyễn Văn H cho bà H3 vay số tiền 50.000.000 đồng qua lời kể của H. H nói với bà A1 đã cho bà H3 vay mượn tiền trong thời hạn 01 tháng không lấy lãi. Tuy nhiên, sau đó, bà H3 kéo dài việc trả nợ. Giữa H và bà H3 có thỏa thuận về việc vay có lãi hay không thì bà A1 không biết. Bà A1 có biết việc bà H3 nhận cọc đất 200.000.000 đồng theo hợp đồng đặt cọc ngày 04/01/2022, số tiền cọc là do 03 người: Bà H4, bà T1 và H góp vốn. Bà A1 cũng được H kể về việc bà H4, T1 và H đòi tiền cọc đất của bà H3 nhưng bà A1 không rõ cụ thể, không tham gia việc đòi cọc đất. Bà A1 chỉ biết việc đòi tiền cọc diễn ra trong giai đoạn từ tháng 7, 8 năm 2023 và đến thời điểm tháng 10/2023, H có nói với bà A1 là bà H3 chưa trả tiền cọc đất, mới trả tiền nợ lúc trước. Bà Thái Thị H4 trình bày tiền cọc đất tại Hợp đồng đặt cọc ngày 04/01/2022 đã thanh toán xong, không liên quan đến việc vay mượn tiền giữa bà Nguyễn Thị H3 và Nguyễn Văn H. Bà Nguyễn Thị H3 trình bày số tiền 72.000.000 đồng bà H3 chuyển cho Nguyễn Văn H là tiền lãi vay cho khoản vay 50.000.000 đồng mà bà H3 đã vay của H, tiền lãi từ tháng 11/2022 đến tháng 10/2023; trong số tiền trên không có tiền bà H3 hứa hẹn cho thêm H để mua sữa cho con. Việc bà H3 khai có tiền mua sữa cho con là do H có đến gặp bà H3 nhờ bà H3 khai báo để giúp H được giảm nhẹ.

Quá trình điều tra, bà Nguyễn Thị H3 cung cấp các đoạn video clip và trình bày đây là các đoạn video trích xuất camera tại nhà bà H3 ở 1 B, khu phố C, phường P, thành phố B và cửa hàng B, phường L, thành phố B, ghi nhận hình ảnh Nguyễn Văn H có hành vi tạt sơn, mắm tôm vào các ngày 31/8/2023 và ngày 02/11/2023. Hậu quả, bà H3 bị dơ nhà cửa; sau khi rửa sạch thì không bị thiệt hại, hư hỏng tài sản gì. Nguyễn Văn H thừa nhận hành vi tạt sơn, mắm tôm vào nhà bà H3 vào ngày 31/8/2023 và ngày 02/11/2023. Ngày 25/12/2023, Đội Điều tra tổng hợp Công an thành phố B đã lập biên bản vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn H.

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:

  • - 01 thẻ nhớ Micro SD, dung lượng 4GB hiệu Toshiba, mã số 1623PY50026, do bà Nguyễn Thị H3 giao nộp ghi nhận hình ảnh Nguyễn Văn H có hành vi tạt sơn, mắm tôm vào ngày 31/8/2023 và ngày 02/11/2023 (chuyển theo hồ sơ vụ án).
  • - 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen, số Imei 1: 861329055708342, số Imei 2: 861329055708359, tình trạng đã qua sử dụng, màn hình bị vỡ, camera sau có nhiều vết nứt vỡ, của Nguyễn Văn H, trong ứng dụng Zalo có tin nhắn của H và bà Nguyễn Thị H3 về nội dung trả lãi, đòi nợ. VKSND thành phố Bà Rịa đã ra Quyết định chuyển vật chứng trên đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa bảo quản, chờ xử lý.
  • * Về dân sự: Bà Nguyễn Thị H3 không yêu cầu về dân sự, về số tiền nợ giữa Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị H3 có thoả thuận riêng.

Bản cáo trạng số 91/CT-VKSBR ngày 18/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Từ đó đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
  • Về hình phạt chính: Đề nghị áp dụng Khoản 1 Điều 201, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức hình phạt từ 70.000.000 (bảy mươi triệu) đồng đến 80.000.000 (tám mươi triệu) đồng.
  • Đề nghị buộc bị cáo phải nộp lại ngân sách nhà nước đối với số tiền gốc đã cho vay là 50.000.000 đồng, tiền lãi 10.000.000 đồng và trả cho người vay số tiền thu lợi bất chính là 62.000.000 đồng.
  • Về xử lý vật chứng: Đề nghị tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ Micro SD do bà H3 giao nộp ghi nhận hình ảnh hành vi tạt sơn, mắm tôm của Nguyễn Văn H và tịch thu sung quỹ nhà nước 01 ĐTDĐ hiệu Redme đã thu giữ của H do có liên quan đến hành vi phạm tội.
  • - Bị cáo thừa nhận do mối quan hệ làm ăn, quen biết nên tháng 10/2022, bị cáo có cho bà Nguyễn Thị H3 vay số tiền 50.000.000 đồng, không thỏa thuận lãi suất, thời hạn vay 01 tháng. Hết thời hạn vay, bà H3 không trả tiền cho bị cáo nên bị cáo nói với bà H3 là sẽ tính lãi với mức lãi suất 10%/tháng. Từ tháng 01/2023 đến tháng 10/2023, bà H3 đã chuyển khoản và đưa tiền mặt cho H với tổng số tiền là 72.000.000 (bảy mươi hai) triệu đồng. Theo bị cáo H, trong số tiền 72.000.000 đồng, có tiền giao dịch đặt cọc mua bán đất giữa bà H3 và bị cáo, tiền lãi nhưng bị cáo không phân định được chính xác bao nhiêu, chỉ ước chừng tiền lãi khoảng mười mấy, hai mươi triệu đồng. Tuy nhiên, tại phần tranh luận, bị cáo công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng người, đúng tội, không có ý kiến tranh luận với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát; đồng ý với đề nghị của Viện kiểm sát về xử lý vật chứng, xử lý các khoản tiền liên quan đến hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo, nuôi 03 con nhỏ, vợ đang mang thai để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tháng 10/2022, Nguyễn Văn H có cho bà Nguyễn Thị H3 vay số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng. Lãi suất ban đầu là 10%/tháng (tương đương 120%/năm, gấp 06 lần lãi suất theo quy định).

Từ tháng 10/2022 đến tháng 10/2023, tổng số tiền bà Nguyễn Thị H3 đã trả cho H là 72.000.000 (bảy mươi hai triệu) đồng. Bà Nguyễn Thị H3 khẳng định toàn bộ số tiền 72.000.000 đồng là tiền lãi của khoản vay 50.000.000 đồng đã vay của H còn bị cáo H chỉ thừa nhận trong số tiền này, chỉ có khoảng mười mấy, hai mươi triệu là tiền lãi.

Hội đồng xét xử nhận thấy:

Các lời khai ban đầu của bị cáo thể hiện tại Bản tự khai do chính bị cáo viết và ký tên đều xác định bị cáo cho bà Nguyễn Thị H3 vay số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng, lãi suất thỏa thuận miệng 10%/tháng, đã đóng được 72.000.000 (bảy mươi hai triệu) đồng tiền lãi (BLĐT số 43, 44). Lời khai của bị cáo là thống nhất trong suốt quá trình điều tra. Bị cáo thừa nhận không bị ép cung, nhục hình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai, hình ảnh được ghi âm, ghi hình trong quá trình điều tra.

Tiến hành lấy lời khai của những người làm chứng, liên quan đến sự việc đặt cọc mua bán đất giữa bị cáo và bà Nguyễn Thị H3 gồm bà Thái Thị H4, bà Tạ Thị T1, bà Lê Thúy A1 thể hiện bị cáo có góp vốn cùng với bà Thái Thị H4, bà Tạ Thị T1 để mua chung lô đất của bà Nguyễn Thị H3, bà Thái Thị H4 là người đứng ra giao dịch, chịu trách nhiệm và là người đứng tên ký kết hợp đồng đặt cọc. Khi sự việc đặt cọc mua bán đất không thành thì bà H3 có trách nhiệm trả tiền cọc cho bà H4. Bà H4 và bà H3 xác định tiền cọc đất bà H3 đã thanh toán xong cho bà H4, bà H3 không có trách nhiệm thanh toán tiền cọc đất cho từng người góp vốn. Mặt khác, lời khai của người làm chứng là bà Lê Thúy A1 (do chính bị cáo H đề nghị triệu tập) xác định việc đòi tiền cọc diễn ra trong giai đoạn từ tháng 7, 8 năm 2023 nhưng việc bà H3 chuyển tiền cho H đã bắt đầu từ tháng 01/2023 và đến thời điểm tháng 10/2023, H xác định bà H3 chưa trả tiền cọc đất, mới trả tiền nợ lúc trước. (BLĐT số 200)

Đối chiếu các chứng từ chuyển khoản của bà H3 cho H, tại phần “nội dung chuyển khoản” tuy đa phần đều ghi chung chung là “chuyển khoản” nhưng không có bất cứ nội dung chuyển khoản nào đề cập đến tiền đất mà chỉ có đề nội dung là tiền lãi vay (BLĐT số 55).

Các nội dung tin nhắn trao đổi giữa H và bà H3 thu giữ được trong điện thoại của H trên nền tảng mạng Zalo cũng chỉ thể hiện nội dung tiền mượn, không có nội dung nào liên quan đến tiền đất. Cụ thể:

  • Ngày 29/10/2023, vào lúc 14 giờ 37 phút, H nhắn: “Mai tới ngày rồi nha chị”. (BLĐT số 54)
  • Ngày 30/10/2023, vào lúc 09 giờ 37 phút, H nhắn:
  • “Chị đừng có bắt em qua bên đó hoài vậy Vừa vừa phải phải thôi chứ
  • Cứ mỗi lần lấy tiền là phải qua năn nỉ
  • ...
  • Lúc em cho mượn nói chuyện ngọt ngào còn lúc em lấy tiền thì phải năn nỉ từng xu từng cắc ...”. (BLĐT số 54)
  • Ngày 16/10/2023, khi bà H3 không chuyển khoản được tiền lãi vay do trục trặc máy (treo máy) thì vào lúc 11 giờ 34 phút ngày 17/10/2023, H nhắc bà H3 chuyển khoản lại. Đến 19 giờ 17 phút cùng ngày, sau khi bà H3 chuyển khoản thành công số tiền 2.000.000 đồng tiền lãi (có ghi chú nội dung chuyển khoản là tiền trả lãi) thì bà H3 có chốt với H bằng tin nhắn Zalo là “Vừa gửi 2tr. Tổng 72tr” thì H thả tim đồng ý. (BLĐT số 55)

Đối chiếu lời khai của bị cáo tại phiên tòa và lời khai trong suốt quá trình điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, lời khai của những người làm chứng, các chứng từ giao dịch ngân hàng, các hình ảnh ghi nhận tin nhắn trao đổi giữa H và bà H3 thu giữ được trong điện thoại của H và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để xác định số tiền 72.000.000 đồng là tiền lãi mà bà H3 đã trả cho bị cáo H, tương đương với mức lãi suất là 7,2%/tháng, thu lợi bất chính 62.000.000 (sáu mươi hai triệu) đồng.

Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo Khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến hoạt động quản lý của nhà nước trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo đã gây mất an ninh trật tự xã hội, gây hoang mang dư luận quần chúng. Do đó, cần có hình phạt phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội để đảm bảo tính răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và bảo đảm phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ: Mặc dù trong giai đoạn truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thay đổi lời khai theo hướng không nhận tội vì lý do sợ có tiền án sẽ ảnh hưởng đến lý lịch, sợ không có đủ tiền để nộp theo quy định nhưng tại phần tranh luận, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời nói sau cùng, bị cáo thể hiện thái độ ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

[5] Về xử lý vật, tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm:

  • - Đối với khoản tiền cho vay (tiền gốc): Số tiền 50.000.000 đồng bị cáo sử dụng để cho vay được xác định là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước. Do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa trả tiền cho bị cáo nên buộc bà H3 phải nộp ngân sách nhà nước khoản tiền này.
  • - Đối với khoản tiền lãi theo quy định là 10.000.000 đồng, đây được coi là tiền phát sinh từ hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước. Buộc bị cáo phải nộp số tiền 10.000.000 đồng sung quỹ nhà nước.
  • - Đối với khoản tiền thu lợi bất chính là 62.000.000 đồng: Buộc bị cáo phải trả lại cho bà H3 khoản tiền thu lợi bất chính này.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án đối với 01 thẻ nhớ Micro SD do bà H3 giao nộp, ghi hình ảnh Nguyễn Văn H có hành vi tạt sơn, mắm tôm ngày 31/8/2023 và ngày 02/11/2023.
  • - Đối với điện thoại di động hiệu Redmi màu đen đã thu giữ của Nguyễn Văn H, do có liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Các vấn đề khác:

  • Đối với hành vi tạt sơn và mắm tôm của Nguyễn Văn H, cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử phạt hành chính là phù hợp.
  • Đối với đối tượng tên H và Tuấn A, chưa xác định được nhân thân, lai lịch, cơ quan CSĐT tiếp tục làm rõ, xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”

2. Áp dụng khoản 1 Điều 201, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

  • - Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án đối với 01 thẻ nhớ Micro SD do bà H3 giao nộp, ghi hình ảnh Nguyễn Văn H có hành vi tạt sơn, mắm tôm ngày 31/8/2023 và ngày 02/11/2023.
  • - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi màu đen, số IMEI 1: 861329055708342, số IMEI 2: 861.329055708359.
  • Thực hiện theo Biên bản giao nhận vật chứng số 45 ngày 07/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa.

4. Về xử lý vật, tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm: Căn cứ Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

  • - Buộc bà Nguyễn Thị H3 phải nộp ngân sách nhà nước số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp ngân sách nhà nước số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng.
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải trả lại cho bà Nguyễn Thị Hằng S tiền 62.000.000 (sáu mươi hai triệu) đồng.

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về hướng dẫn mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án (09/8/2024) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo về phần liên quan của bản án.

7. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - Công an tỉnh BR-VT (PV06, PC10);
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - VKSND thành phố Bà Rịa;
  • - Công an thành phố Bà Rịa;
  • - Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Thị Thanh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 97/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 07/11/2023, Công an phường L, thành phố B nhận được tin báo của bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1971, HKTT: 16/32 B, khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về việc tại cửa hàng của bà ở địa chỉ B V, khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bị Nguyễn Văn H cùng 02 người đàn ông đến đòi nợ gây mất an ninh trật tự. Sau khi nhận được tin báo, Công an phường L đã xuống giải quyết vụ việc và mời bà H3 cùng H về phường làm việc. Quá trình làm việc, tại Công an phường L, Nguyễn Văn H khai: Vào tháng 10/2022 có cho bà Nguyễn Thị H3 vay số tiền 50.000.000 đồng với lãi suất 10%/tháng. Bà H3 trả được 72.000.000 đồng thì bà H3 xin trả gốc và không đóng lãi nữa thì H đồng ý. Sau đó, H đã nhiều lần liên lạc điện thoại với bà H3 để đòi lại số tiền gốc đã cho vay nhưng bà H3 thất hứa nên vào đêm ngày 02/11/2023, H cùng 03 người nữa đi từ thành phố V qua nhà bà H3 ở địa chỉ 1 B, khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu để tạt mắm tôm và sơn vào nhà bà H3 với mục đích ép bà H3 trả tiền nhưng bà H3 vẫn không chịu trả tiền; đến chiều ngày 07/11/2023, H cùng với 02 đối tượng tên H và Tuấn A (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đến cửa hàng của bà H3 ở B V, phường L, thành phố B để đòi tiền thì bà H3 báo công an phường giải quyết.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger