Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG HƯNG

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2024/HS-ST

Ngày: 20/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Tiến Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Văn Hiển.
  2. Bà Nguyễn Thị Là

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng.

Đại diện VKSND huyện Đông Hưng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Thu H - Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 101/2024/TLST-HS ngày 06/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST- HS ngày 09/9/2024 đối với các bị cáo:

A, sinh ngày 12/6/1987 tại: xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình;

Nơi cư trú: Thôn M, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá:12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Hoàng Văn K và bà: Bùi Thị N; Chưa có vợ con ;

  • + Tiền sự: Không;
  • + Tiền án: Bản án số 19/2022/HSST ngày 15/4/2022 tòa án nhân dân huyện Đông Hưng xử phạt Tiềm 2 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, Tiềm chấp hành xong phạt tù ngày 29/9/2023.
  • Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 415 ngày 14/8/2012 của Công an huyện Đ, xử phạt Tiềm 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, Tiềm nộp phạt cùng ngày.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/6/2024 đến ngày 13/6/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện Đ.

2/ Phạm Chí D, sinh ngày 20/10/1984.

Nơi ĐKHKTT: Phường I, quận P, thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Phạm Chí L và bà: Nhâm Thị T; Có vợ: Bùi Diệu L1 và có 2 con, lớn sinh năm 2022, nhỏ sinh năm 2023;

  • Tiền sự: Không;
  • Tiền án: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/6/2024 đến ngày 13/6/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện Đ.

(Cả 2 bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người chứng kiến: Bà Bùi Thị Xuân B, sinh năm 1968 và ông Nhâm Hữu K1, sinh năm 1973 đều trú tại thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình;

(Đều vắng mặt tại phiên tòa không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Văn T1 là người sử dụng ma túy khoảng từ năm 2019. Ngày 05/6/2024, T1 đi từ nhà đến ngã tư G xã Đ, thành phố T tìm gặp một người đàn ông khoảng 45 tuổi, không rõ tên và địa chỉ mua được 01 túi nilon nhỏ ma túy đá (Methamphetamine) với giá 400.000 đồng về để sử dụng. Tiềm đã lấy ra 1 ít để sử dụng, số ma túy còn lại trong túi nilon Tiềm dùng nhiệt gắn kín lại, mục đích nếu có ai hỏi mua thì bán lại để kiếm lời. Đến 11 giờ 40 phút ngày 07/6/2024, khi T1 đang ở nhà tại thôn M, xã Đ thì Phạm Chí D là người quen biết với T1 gọi điện thoại đến cho T1 hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá. Tiềm đồng ý và hẹn D đến đường đê xã Đ để mua bán ma túy. Khoảng 10 phút sau T1 cầm gói ma túy đi đến điểm hẹn. Đến nơi, T1 thấy D điều khiển xe mô tô đến đợi sẵn. Tiềm đến chỗ D thì D đưa Tiềm 500.000 đồng, T1 nhận tiền và đưa D gói ma túy. D cầm gói ma túy bỏ vào túi quần bên phải đang mặc rồi ra về. Khoảng 12 giờ 45 phút cùng ngày, khi D về đến trục đường thôn T, xã Đ thì bị lực lượng Công an tuần tra phát hiện, nghi vấn D có liên quan đến ma túy nên đã yêu cầu D dừng xe để kiểm tra, D chấp hành. Tổ công tác đã mời người chứng kiến và giải thích quyền nghĩa vụ cho D, trước sự chứng kiến của mọi người, D đã tự nguyện lấy từ túi quần bên phải đang mặc ra 01 gói nhỏ nilon màu đỏ bên trong có chứa ma túy ra giao nộp cho lực lượng Công an. Lực lượng Công an đã tiến hành quản lý niêm phong ma túy, quản lý của D 01 xe mô tô Honda Airblade biển kiểm soát 17B3-449.38 và 01 điện thoại Sam sung Galaxy A50s vỏ màu đen cũ. Sau đó đưa D đến Ủy ban nhân dân xã Đ để lập biên bản theo quy định. Khoảng 16 giờ cùng ngày, sau khi biết D bị bắt, được gia đình vận động Hoàng Văn T1 đã đến Công an xã Đ để đầu thú.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của D không thu giữ gì. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Tiềm thu 01 điện thoại di động Samsung A14 vỏ màu đen, 01 mảnh nilon màu đỏ kích thước (11x6) cm.

Tại bản kết luận giám định số 583/KLGĐ ngày 11/6/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,1748 gam. Methamphetamine STT: 247 Danh mục IIC phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số 98/CT-VKSĐH ngày 06/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng truy tố bị cáo Hoàng Văn Tiềm về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Phạm Chí D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà sơ thẩm:

Các bị cáo Hoàng Văn T1 và Phạm Chí D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Hoàng Văn T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Phạm Chí D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn T1 từ 02 năm 06 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù. Phạt bổ sung từ 05 triệu đến 07 triệu đồng.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo D từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo D.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với: 01 điện thoại nhãn hiệu Sam sung Galaxy A50s của D và 01 điện thoại nhãn hiệu Sam sung A14 vỏ màu đen của Tiềm là công cụ hai bị cáo dùng vào việc liên lạc để mua ma túy. Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 mảnh nilon màu đỏ kích thước (11x6)cm thu của T1 không còn giá trị và toàn bộ số ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ. Truy thu số tiền 500.000 đồng của bị cáo T1 nộp ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Bị cáo T1, bị cáo D nói lời sau cùng: Cả hai bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ 1 phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội, hai bị cáo hứa sẽ cải tạo tốt.

PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[I] Về tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tiến hành thu thập các tài liệu, chứng cứ theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

Về việc vắng mặt của những người chứng kiến: những người trên đã có lời khai tại Cơ quan điều tra. Căn cứ vào Điều 296 Bộ luật Tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[II] Về nội dung:

[1] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo T1 và bị cáo D đã khai nhận:

Bị cáo T1 khai:

Ngày 05/6/2024, T1 đi từ nhà đến ngã tư G, xã Đ, thành phố T mua 01 túi nilon nhỏ ma túy loại Methamphetamine với giá 400.000 đồng của một người đàn ông khoảng 45 tuổi, không rõ tên và địa chỉ cụ thể. Tiềm mang về nhà, đã lấy ra 1 ít sử dụng, số ma túy còn lại Tiềm dùng túi nilon có sẵn gắn kín lại bằng nhiệt, mục đích nếu có ai hỏi mua thì bán lại để kiếm lời. Đến khoảng 11 giờ 40 phút ngày 07/6/2024, khi T1 đang ở nhà thì D gọi đến số điện thoại 0374.762.xxx của T1 hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá. Tiềm đồng ý và hẹn D đến đường đê xã Đ để mua bán ma túy. Khoảng 10 phút sau T1 cầm gói ma túy đi đến điểm hẹn thì gặp D, D đưa Tiềm 500.000 đồng, T1 nhận tiền và đưa D 01 gói ma túy bên ngoài gói bằng túi nilon màu đỏ bên trong có chứa ma túy đá. Sau đó T1 ra về. Khoảng 16 giờ cùng ngày, sau khi biết D bị bắt, được gia đình vận động, Tiềm đã đến Công an xã Đ để đầu thú.

Bị cáo D khai:

Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 07/6/2024, D đã dùng điện thoại số thuê bao 0963.960.xxx để gọi cho Tiềm số điện thoại 0374.762.xxx với mục đích là mua 500.000 đồng ma túy đá. Tiềm đồng ý và hẹn D đến đường đê xã Đ để mua bán ma túy. D điều khiển xe mô tô đến điểm hẹn, đứng đợi một lúc thì T1 đi đến, D đưa Tiềm 500.000 đồng, T1 nhận tiền và đưa lại D 01 gói ma túy bên ngoài được gói bằng túi nilon màu đỏ, bên trong có chứa ma túy đá. D cầm gói ma túy vừa mua được cất vào túi quần bên phải đang mặc sau đó điều khiển xe mô tô về nhà để sử dụng. Khi đang về đến trục đường thôn T, xã Đ thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.

Lời khai của hai bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa như Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ và niêm phong tài sản, đồ vật, tài liệu; Bản ảnh vật chứng; Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, lời khai của những người chứng kiến cùng với bản kết luận giám định, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hoàng Văn T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Phạm Chí D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

1. Người nào mua bán trái phép chất ma thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

[2] Xét tính chất và mức độ của hành vi phạm tội: Ma tuý là hiểm hoạ của nhân loại, nó huỷ hoại sức khoẻ và nhân cách con người, là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác. Vì vậy Đảng và Nhà nước đã có nhiều chương trình hành động nhằm loại ma túy ra khỏi đời sống xã hội và có những chế tài nghiêm khắc nhất đối với các loại tội phạm về ma túy. Cả hai bị cáo đều nhận thức được điều đó nhưng vì hám lời bị cáo T1 vẫn tàng trữ ma túy với mục đích để bán cho bị cáo D để sử dụng ma túy. Hành vi phạm tội của hai bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Vì vậy cần xét xử các bị cáo mức án nghiêm khắc vừa để cải tạo giáo dục bị cáo, vừa có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung.

[3]Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

  • - Bị cáo D: có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo D không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào.
  • - Bị cáo Tiềm: có nhân thân xấu, có 1 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Tiềm thành khẩn khai báo, đầu thú nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự

[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Tiềm phạm tội có mục đích vụ lợi, vì vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T1.

Bị cáo D tàng trữ ma túy mục đích sử dụng cho bản thân, bị cáo không có thu nhập ổn định. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:

  • - Đối với 02 điện thoại di động: Sam sung Galaxy A50s của D và S sung A14 vỏ màu đen của Tiềm. Hai bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán trái phép ma túy. Do đó, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước 02 điện thoại trên;
  • - Đối với 01 mảnh nilon màu đỏ thu của T1 không còn giá trị và toàn bộ số Methamphetamine còn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda 17B3-4449.38, D mượn của ông Nhâm Văn T2 (cậu ruột D) để đi, ông T2 không biết D sử dụng xe để đi mua ma túy. Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông T2. Nên không đặt ra giải quyết trong vụ án.
  • - Đối với số tiền 500.000 đồng bị cáo T1 bán ma túy cho bị cáo D cần truy thu nộp ngân sách nhà nước.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh:

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Phạm Chí D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

[2] Về áp dụng luật và hình phạt:

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Tiềm 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/6/2024. Phạt bổ sung 5 triệu đồng.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo D 01 (một) năm 06(sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/6/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

[3] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Methamphetamine còn lại sau giám định có khối lượng 0,1356 gam cùng 01 mảnh nilon màu đỏ (11x6)cm.
  • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Sam sung Galaxy A50s và 01 điện thoại Sam sung A14 vỏ màu đen.
  • - Truy thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 500.000 đồng của bị cáo Hoàng Văn T1

[4] Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội, quy định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí.

Các bị cáo Hoàng Văn T1, Phạm Chí D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày. Thời hạn kháng cáo đối với các bị cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 20/9/2024;

Nơi nhận

  • - Bị cáo
  • - VKS, CA, THA h Đông Hưng.
  • - VKS tỉnh Thái Bình.
  • - Sở tư pháp ( khi án có hiệu lực)
  • - Lưu HS, VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Bùi Tiến Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 97/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: D -T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger