TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 97/2024/HSST Ngày: 20/5/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thị Minh Hòa
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Hồ Đắc Toàn
- Ông Phạm Ngọc Đông
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Trần Thị Thoa là Thư ký Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: bà Võ Thị Mỹ Hạnh là Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 97/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Nguyễn Ngọc L, tên gọi khác: Không, sinh ngày 07/9/2003 tại tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: thôn B, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; tên cha: Trần Ngọc D, sinh năm 1980; tên mẹ: Nguyễn Thị Trường C, sinh năm 1979; Vợ: Lê Vũ Khánh H, sinh năm 2002, chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1997; trú tại: 4 N, phường Đ, TX. A, tỉnh Bình Định; Vắng mặt.
- Ông Trần Ngọc V, sinh năm 1956; Trú tại: thôn B, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng năm 2019, Trần Nguyễn Ngọc L quen với một người tự giới thiệu tên là Võ Kim S, học sinh Trường THPT Q, sau đó L và S có liên lạc và chơi với nhau. Khoảng tháng 09/2023, L và S có gặp nhau thì S nói hiện đang sống tại TP Hồ Chí Minh. Qua nói chuyện thì S có rủ rê L sử dụng ma túy cần sa. Vào ngày 17/11/2023, L liên lạc qua ứng dụng messenger với tài khoản tên Võ Kim S hỏi mua 20 gam ma tuý cần sa. Khoảng 08 giờ 00 ngày 20/11/2023, một nhân viên giao hàng của Công ty G đến giao cho L một hộp giấy tại đầu hẻm E H, phường G, TP Q. Sau đó, L đem hộp giấy về phòng trọ mở ra thấy có 04 gói nilon chứa ma túy cần sa, trước đó S có nói với L là cứ 02 bì thì đựng 10 gam cần sa. L đã sử dụng một mình hết 02 gói, còn lại 02 gói. Sau khi sử dụng hết 10 gam cần sa, Luân chuyển khoản trả cho S số tiền 1.000.000 đồng.
Khoảng 13h ngày 27/11/2023, Nguyễn Ngọc T liên hệ với tài khoản Telegram tên “a bun bun 9420” hỏi mua 10 gam ma tuý cần sa với giá 1.100.000 đồng, hẹn giao ma tuý tại ngã ba đường A với T. Sau đó, S liên lạc với L nói đem 10 gam cần sa đi bán cho T, S sẽ trả tiền công cho L 200.000 đồng. L lấy 10 gam cần sa, phân chia vào 04 gói nilon nhỏ, bỏ vào trong 02 vỏ bao thuốc lá Thăng L1 để đi bán cho T. Khi L điều khiển xe mô tô 77D1-511.72 đi đến trước đường A thuộc tổ B, khu phố E, phường Đ, thành phố Q thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý – Công an T2 phối hợp Công an phường Đ phát hiện, kiểm tra. L tự nguyện giao nộp cho Tổ công tác từ túi quần bên trái đang mặc 02 vỏ bao thuốc lá, bên trong mỗi vỏ bao có 02 gói nilon đều chứa thực vật khô, tất cả nghi là ma túy. Tổ công tác lập biên bản ghi nhận vụ việc, thu giữ, niêm phong toàn bộ số chất nêu trên, đưa Trần Nguyễn Ngọc L về trụ sở làm việc.
Ngày 30/11/2023, Phòng K - Công an tỉnh B có Kết luận giám định số 515/KL-KTHS kết luận: Mẫu thực vật khô đựng bên trong 04 gói nilon có tổng khối lượng 10,1231 gam là ma túy loại cần sa.
Cần sa nằm trong danh mục chất ma túy và tiền chất có số thứ tự là 1, danh mục ID, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Vật chứng vụ án: quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T2 đã tạm giữ từ Trần N 10,1231 gam ma túy loại cần sa; 02 vỏ bao thuốc lá màu vàng, bên ngoài có dòng chữ “Thăng Long” (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động OPPO, màu đỏ, số seri: 6bf2390b, bên trong gắn sim số 0345 696 056 (đã qua sử dụng); 01 xe mô tô Honda Wave, màu đen bạc, gắn biển số: 77D1-511.72, số máy: JA39E0868109, số khung: 3917KY012097 (đã qua sử dụng). Ngày 25/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an T2 đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe mô tô Honda Wave, màu đen bạc, gắn biển số: 77D1-511.72 cho chủ sở hữu Trần Ngọc V.
Bản Cáo trạng số 102/CT – VKSQN ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố Trần Nguyễn Ngọc L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS).
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Trần Nguyễn Ngọc L có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã có hành vi tàng trữ trái phép 10,1231 gam ma túy loại cần sa nhằm mục đích mua bán bị phát hiện bắt quả tang vào ngày 27/11/2023 tại tổ B, khu phố E, phường Đ, thành phố Q nên Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm”, ông bà ngoại của bị cáo là người có công với cách mạng nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù.
* Về vật chứng vụ án, đề nghị:
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 ( một) điện thoại di động OPPO, màu đỏ đen, số seri 6bf2390b, bên trong gắn sim số 0345 696 056 (đã qua sử dụng), riêng sim điện thoại thì tiêu huỷ.
- Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng còn lại vì không có giá trị sử dụng.
Bị cáo không bào chữa.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, xin Tòa giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T2, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Trần Nguyễn Ngọc L đã có hành vi tàng trữ trái phép 10,1231 gam ma túy loại cần sa nhằm mục đích mua bán bị phát hiện bắt quả tang vào ngày 27/11/2023 tại tổ B, khu phố E, phường Đ, thành phố Q. Cần sa nằm trong danh mục chất ma túy và tiền chất có số thứ tự là 1, danh mục ID, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Trần Nguyễn Ngọc L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[3] Bị cáo có đầy đủ sức khỏe, có năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên phải biết tác hại của ma túy gây ra cho xã hội là rất lớn, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm nên việc cất giữ, mua bán, sử dụng chất ma túy phải theo quy định đặc biệt của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Nhưng vì bản thân có sử dụng ma tuý và muốn có tiền để tiêu xài mà bị cáo đã mua cần sa về sử dụng và bán cho người khác để hưởng lợi bất chính. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng; giảm nhẹ của bị cáo thì thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo còn cung cấp thông tin giúp Cơ quan điều tra phát hiện và bắt giữ tội phạm, được Cơ quan điều tra – Công an thành phố T2 có Công văn số 207/CSĐT-CSMT ngày 19/3/2024 đề nghị Toà án xem xét áp dụng tình tiết “tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm”, ông bà ngoại của bị cáo là người có công với nước, được tặng thưởng nhiều huân chương. Xét thấy bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 và có tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS, bản thân bị cáo có tuổi đời còn trẻ, có nhân thân tốt nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 3 Điều 54 BLHS để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cho bị cáo, để bị cáo an tâm cải tạo tốt, sớm được tái hoà nhập cộng đồng, trở thành người công dân có ích cho xã hội.
[5] Về xử lý vật chứng:
5.1 Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 ( một) điện thoại di động OPPO, màu đỏ đen, số seri 6bf2390b bên trong gắn sim số 0345 696 056 (đã qua sử dụng) là điện thoại bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội. Riêng sim điện thoại thì tịch thu tiêu hủy.
5.2 Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng không có giá trị sử dụng:
- 01 (một) bì thư dán kín niêm phong 03 dấu tròn của “Phòng K - Công an tỉnh B”, có chữ ký của Nguyễn Nhật H1, Nguyễn Đăng Tấn L2, Thân Trọng T1 (tất cả đều 01 chữ ký), bên ngoài bì thư ghi: H2 lại đối tượng giám định: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; 0,8955 gam mẫu A1; 2,3351 gam mẫu A2; 2,5490 gam mẫu A3 và 2,1987 gam mẫu A4 còn lại sau giám định.
- 02 (hai) vỏ bao thuốc lá.
[6] Về án phí: Bị cáo bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Về vấn đề khác:
7.1 Về nguồn gốc ma túy, Trần Nguyễn Ngọc L khai nhận mua của người nam tên Võ Kim S, Cơ quan CSĐT Công an T2 đã tiến hành xác minh nhân thân lai lịch của người này nhưng không xác định được nên không có căn cứ để xử lý.
7.2 Đối với ông Trần Ngọc V là chủ sở hữu xe mô tô, biển số: 77D1-511.72 đã cho L sử dụng xe mô tô trên nhưng không biết L sử dụng xe để đi giao ma túy nên không phạm tội.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện VKSND thành phố Quy Nhơn phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của HĐXX.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Nguyễn Ngọc L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Nguyễn Ngọc L 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
- Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy:
- 01 (một) bì thư dán kín niêm phong 03 dấu tròn của “Phòng K - Công an tỉnh B”, có chữ ký của Nguyễn Nhật H1, Nguyễn Đăng Tấn L2, Thân Trọng T1 (tất cả đều 01 chữ ký), bên ngoài bì thư ghi: H2 lại đối tượng giám định: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; 0,8955 gam mẫu A1; 2,3351 gam mẫu A2; 2,5490 gam mẫu A3 và 2,1987 gam mẫu A4 còn lại sau giám định.
- 02 (hai) vỏ bao thuốc lá.
- Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động OPPO, màu đỏ đen, số seri 6bf2390b, bên trong gắn sim số 0345 696 056 (đã qua sử dụng). Riêng sim điện thoại thì tịch thu tiêu hủy.
(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Quy Nhơn).
- Tịch thu, tiêu hủy:
- Án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, ông Trần Ngọc V được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20/5/2024); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
Nơi nhận:TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Bình Định; - VKSND tỉnh Bình Định; - VKSND Tp. Quy Nhơn; - Chi cục THADS Tp. Quy Nhơn; - CQ CSĐT CA Tp. Quy Nhơn; - CQ THAHS CA Tp. Quy Nhơn; - Nhà tạm giữ; - Đương sự; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Văn Thị Minh Hòa |
Bản án số 97/2024/HSST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 97/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN - TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo tàng trữ trái phép 10,1231 gam ma túy loại cần sa nhằm mục đích mua bán
