|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 97/2024/DS-ST Ngày: 19/7/2024 Về việc: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân.
1. Bà Vương Thị Khánh Loan
2. Ông Nguyễn Phi Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Diệu Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân TP Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Linh – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1195/2023/TLST-DS ngày 29 tháng 12 năm 2023, về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2024/QĐXX-ST ngày 18 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 946/2024/QĐST-DS ngày 03/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ;
Địa chỉ: B N, phường T, quận H, thành phố Hà Nội;
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình L - Chủ tịch HĐQT.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng Trung N - Chức vụ: Phó Giám đốc Khối quản lý và T cấu trúc Tài sản (Theo Giấy ủy quyền số 10772/UQ-PVB ngày 10/6/2020).
Ông Nguyễn Hoàng Trung N ủy quyền lại cho: ông Nguyễn Quốc K, sinh năm 1996 – Địa chỉ liên lạc: Lầu B, số B L, phường A, quận C, thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy ủy quyền số 4402/UQ-PVB ngày 23/5/2024); Có mặt.
- Bị đơn: Bà Hoàng Thị Thanh H, sinh năm 1990;
Địa chỉ: C, tổ A, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 12/6/2023 và lời khai trong quá trình tham gia tổ tụng và tại phiên toà, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng TMCP Đ (gọi tắt là Ngân hàng Đ) cùng ký kết với bà Hoàng Thị Thanh H hợp đồng tín dụng để cho bà H vay số tiền, như sau:
Hợp đồng cho vay số 3812/2018/HĐ TD/PVB-DNI ngày 27/12/2018, Khế ước nhận nợ số LD1836200800 ngày 28/12/2018; Mục đích sử dụng vốn: Mua xe ô tô; Ngày 28/12/2018, Ngân hàng Đ đã giải ngân cho và H vay số tiền 150.000.000đ; Thời hạn vay là 36 tháng kể từ ngày giải ngân; Lãi suất vay là 7,49%/năm.
Trong suốt quá trình vay từ ngày 28/12/2018 cho đến nay bà Hoàng Thị Thanh H chỉ thanh toán cho Ngân hàng Đại Chúng số tiền gốc 53.712.688đồng, lãi 13.920.286đồng; Tổng là 67.632.974 đồng.
Quá trình thực hiện Hợp đồng cho vay, khế ước nhận nợ, bà Hoàng Thị Thanh H đã không thực hiện trả nợ theo như cam kết, cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Ngày 13/05/2020, Ngân hàng Đ đã gửi thông báo số 2027/TB-PVB về việc vi phạm nghĩa vụ và thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ khoản vay của bà Hoàng Thị Thanh H.
Dư nợ khoản vay theo Hợp đồng cho vay số 3812/2018/HĐTD/PVB-DNI ngày 27/12/2018 tạm tính đến ngày 19/7/2024 như sau: Tiền gốc 96.287.312 đồng; Tiền lãi 82.306.952 đồng (gồm: Lãi trong hạn: 12.445.736 đồng; Lãi quá hạn: 64.897.217đồng; Lãi chậm trả: 4.963.999 đồng). Tổng cộng: 178.594.264đồng.
* Về tài sản bảo đảm : Để bảo đảm cho khoản vay nêu trên, bà Hoàng Thị Thanh H đã ký Hợp đồng thế chấp số 3812/2018/HĐBĐ/PVB-DNI ngày 27/12/2018 để thế chấp tài sản: Xe ô tô tải (có mui); Số Loại: DB1021/KM.02; Màu sơn: Xanh; Nhãn hiệu: DONGBEN; Số khung: RM3BACAB8J2107464; Số máy: LJ465Q2AE6J06812059; Biển kiểm soát: 60C-460.33 (Theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 101456 do Phòng CSGT – Công an tỉnh Đ cấp ngày 24/12/2018 cho bà Hoàng Thị Thanh H).
Tài sản bảo đảm đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại thành phố Đà Nẵng số CE18084688BĐ ngày 27/12/2018 theo quy định của pháp luật.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nay Ngân hàng Đ yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Buộc bà Hoàng Thị Thanh H thanh toán cho Ngân hàng Đ số tiền tạm tính đến ngày 19/7/2024 là: 178.594.264 đồng. Bao gồm: Tiền gốc 96.287.312 đồng; Tiền lãi 82.306.952 đồng.
- Buộc Bà Hoàng Thị Thanh H thanh toán phần nợ lãi phát sinh tính theo lãi suất quá hạn được thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay kể từ ngày 20/7/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bà Hoàng Thị Thanh H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi quá hạn phát sinh thì Ngân hàng Đ có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là 01 xe ô tô tải (có mui) hiệu DONGBEN, số loại DB1021/KM.02, màu Xanh, số khung RM3BACAB8J2107464, số máy LJ465Q2AE6J06812059, biển kiểm soát 60C - 460.33 (theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 101456 do Phòng CSGT Công an tỉnh Đ cấp ngày 24/12/2018 cho bà Hoàng Thị Thanh H) để thu hồi nợ cho Ngân hàng Đ.
Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Hoàng Thị Thanh H đối với Ngân hàng Đ. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Hoàng Thị Thanh H vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng Đại Chúng.
- Đề nghị Toà xem xét giải quyết khoản chi phí tố tụng phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
* Đối với bị đơn là Hoàng Thị Thanh H:
Bà Hoàng Thị Thanh H không còn cư trú tại địa chỉ: C, tổ A, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai từ năm 2017 mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú mới. Tòa án đã thực hiện việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về việc giải quyết vụ án đối với bị đơn theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng bị đơn không đến Tòa án làm việc, không ủy quyền cho người nào khác đến tham gia tố tụng, không có văn bản gửi Tòa án trình bày quan điểm, ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc giải quyết vụ án.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật tố tụng của các bên đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng, bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của pháp luật tố tụng dân sự quy định.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Đ là có căn cứ, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc bà Hoàng Thị Thanh H thanh toán cho Ngân hàng Đ số tiền 178.594.264 đồng
(Bao gồm: Tiền gốc 96.287.312 đồng; Tiền lãi 82.306.952 đồng) và phải tiếp tục thanh toán phần nợ lãi phát sinh tính theo lãi suất quá hạn được thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay kể từ ngày 20/7/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Nếu bà Hoàng Thị Thanh H không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi quá hạn phát sinh thì Ngân hàng Đ có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo quy định.
Bà Hoàng Thị Thanh H phải chịu án phí và chi phí tố tụng phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về thủ tục tố tụng:
Xét thấy, bị đơn là bà Hoàng Thị Thanh H, Tòa án đã thực hiện việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về việc giải quyết vụ án đối với bị đơn theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định.
- [2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp:
Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng Đ về việc yêu bị đơn bà Hoàng Thị Thanh H phải trả khoản tiền vay và lãi suất phát sinh trong Hợp đồng cho vay số 3812/2018/HĐ TD/PVB-DNI ngày 27/12/2018. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- [3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xét thấy:
Ngày 27/12/2018, Ngân hàng Đ ký kết với bà Hoàng Thị Thanh H Hợp đồng cho vay số 3812/2018/HĐ TD/PVB-DNI ngày 27/12/2018, nội dung: Ngân hàng Đại Chúng cho và H vay số tiền 150.000.000đ; Thời hạn vay là 36 tháng kể từ ngày giải ngân; Lãi suất vay là 7,49% /năm; Mục đích sử dụng vốn để mua xe ô tô. Ngày 28/12/2018, Ngân hàng Đ đã giải ngân cho và H vay số tiền trên (Theo Khế ước nhận nợ số LD1836200800 ngày 28/12/2018).
Xét thấy, qúa trình giải quyết vụ án, mặc dù bị đơn không đến Tòa án làm việc, không có văn bản gửi Tòa án trình bày quan điểm, ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn, nhưng qua các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là Hợp đồng cho vay, K1 ước nhận nợ, có đầy đủ chữ ký của bị đơn trong các văn bản nêu trên cùng với bên cho vay. Như vậy, đã có đủ căn cứ xác định việc vay tiền giữa bà Hoàng Thị Thanh H với Ngân hàng Đ là có thật. Nội dung thỏa thuận của các bên được ghi trong Hợp đồng cho vay số 3812/2018/HĐ TD/PVB-DNI ngày 27/12/2018 và Khế ước nhận nợ số LD1836200800 ngày 28/12/2018 là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng. Nên Hợp đồng phát sinh hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Hoàng Thị Thanh H chỉ thanh toán cho Ngân hàng Đ số tiền gốc 53.712.688đồng, lãi 13.920.286đồng; Tổng là 67.632.974 đồng thì ngưng không trả nợ.
Như vậy, bà Hoàng Thị Thanh H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh theo cam kết, thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay, K1 ước nhận nợ, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Căn cứ Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Hợp đồng cho vay số 3812/2018/HĐ TD/PVB-DNI ngày 27/12/2018 và Khế ước nhận nợ số LD1836200800 ngày 28/12/2018 thì việc khởi kiện đòi nợ của Ngân hàng Đ là có căn cứ.
Tính đến ngày xét xử sơ thẩm 19/7/2024, bà Hoàng Thị Thanh H còn nợ Ngân hàng Đ số tiền là: 178.594.264 đồng. Bao gồm: Tiền gốc 96.287.312 đồng; Tiền lãi 82.306.952 đồng (gồm: Lãi trong hạn: 12.445.736đồng; Lãi quá hạn: 64.897.217đồng; Lãi chậm trả: 4.963.999đồng).
Từ những phân tích nêu trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Đ về việc yêu cầu bà Hoàng Thị Thanh H phải trả số tiền nợ nêu trên là có cơ sở, nên chấp nhận.
Về yêu cầu bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán khoản tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh toán, lãi quá hạn theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 3812/2018/HĐTD/PVB-DNI ngày 27/12/2018 và Khế ước nhận nợ số LD1836200800 ngày 28/12/2018 kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử (ngày 20/7/2024) cho đến khi bà Hoàng Thị Thanh H thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Xét thấy, việc các bên thỏa thuận về mức lãi suất trong Hợp đồng cho vay nêu trên là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
- [4] Đối với nghĩa vụ chậm thi hành án tiền vay do tổ chức tín dụng cho vay:
Kể từ ngày 20/7/2024, bà Hoàng Thị Thanh H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- [5] Đối với yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm:
Tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp số 3812/2018/HĐBĐ/PVB-DNI ngày 27/12/2018 là 01 xe ô tô tải (có mui) hiệu DONGBEN, số loại DB1021/KM.02, màu Xanh, số khung RM3BACAB8J2107464, số máy LJ465Q2AE6J06812059, biển kiểm soát 60C - 460.33 (theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 101456 do Phòng CSGT Công an tỉnh Đ cấp ngày 24/12/2018 cho bà Hoàng Thị Thanh H) là tài sản bảo đảm cho khoản vay nói trên.
Xét thấy, Hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên được các bên tự nguyện ký kết, có hình thức, nội dung không trái với các quy định của pháp luật, đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại thành phố Đà Nẵng số CE18084688BĐ ngày 27/12/2018 theo quy định của pháp luật, nên có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành đối với các bên. Trường hợp bà Hoàng Thị Thanh H không trả được nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ thì Ngân hàng Đ có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý, phát mại tài sản bảo đảm nêu trên để thu hồi nợ là phù hợp với quy định tại Điều 323, Điều 299 Bộ luật dân sự 2015 và Hợp đồng thế chấp số 3812/2018/HĐBĐ/PVB-DNI ngày 27/12/2018, nên được chấp nhận.
- [6] Về chi phí thực hiện việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về việc giải quyết vụ án, đây là khoản chi phí liên quan đến việc xử lý nợ theo thoả thuận tại Hợp đồng cho vay. Do vậy, Ngân hàng Đ yêu cầu bà Hoàng Thị Thanh H có trách nhiệm phải thanh toán lại cho Ngân hàng Đại Chúng số tiền trên là có cơ sở, nên chấp nhận.
- [7] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu tại phiên tòa xét thấy phù hợp với các chứng cứ trong hồ sơ vụ án nên được chấp nhận.
- [8] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bà Hoàng Thị Thanh H phải chịu 8.929.713 đồng (Tám triệu, chín trăm hai mươi chín nghìn, bảy trăm mười ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả Ngân hàng Đ 3.896.092₫ (Ba triệu, tám trăm chín mươi sáu nghìn, không trăm chín mươi hai đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001863 ngày 25/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 463, Điều 466; Điều 299, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng;
- Áp dụng Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ đối với bà Hoàng Thị Thanh H về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.
- Buộc bà Hoàng Thị Thanh H phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền là: 178.594.264 đồng (Một trăm bảy mươi tám triệu, năm trăm chín mươi bốn nghìn, hai trăm sáu mươi bốn đồng). Trong đó: tiền gốc 96.287.312 đồng; tiền lãi 82.306.952 đồng.
Kể từ ngày 20/7/2024, bà Hoàng Thị Thanh H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Trường hợp bà Hoàng Thị Thanh H không trả được nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ thì Ngân hàng TMCP Đ có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý, phát mại tài sản bảo đảm là: 01 xe ô tô tải (có mui) hiệu DONGBEN, số loại DB1021/KM.02, màu Xanh, số khung RM3BACAB8J2107464, số máy LJ465Q2AE6J06812059, biển kiểm soát 60C - 460.33 (theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 101456 do Phòng CSGT Công an tỉnh Đ cấp ngày 24/12/2018 cho bà Hoàng Thị Thanh H) để thu hồi nợ.
Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Hoàng Thị Thanh H đối với Ngân hàng TMCP Đ. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Hoàng Thị Thanh H vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Đ.
- Về án phí: Buộc bà Hoàng Thị Thanh H phải chịu 8.929.713 đồng (Tám triệu, chín trăm hai mươi chín nghìn, bảy trăm mười ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả Ngân hàng TMCP Đ 3.896.092₫ (Ba triệu, tám trăm chín mươi sáu nghìn, không trăm chín mươi hai đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001863 ngày 25/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Buộc bà Hoàng Thị Thanh H phải trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) tiền chi phí thực hiện việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về việc giải quyết vụ án.
- Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ hoặc kể từ ngày quyết định của bản án được đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật.
- Về việc thi hành án:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Hùng |
Nơi nhận:
- - VKSND TP Biên Hòa (1);
- - THADS TP Biên Hòa (1);
- - VKSND tỉnh Đồng Nai (1);
- - TAND tỉnh Đồng Nai (1);
- - Đương sự (2);
- - Lưu hồ sơ vụ án (1).
Bản án số 97/2024/DS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 97/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam đối với bà Hoàng Thị Thanh Hằng về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”. 1. Buộc bà Hoàng Thị Thanh Hằng phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam số tiền là: 178.594.264 đồng (Một trăm bảy mươi tám triệu, năm trăm chín mươi bốn nghìn, hai trăm sáu mươi bốn đồng). Trong đó: tiền gốc 96.287.312 đồng; tiền lãi 82.306.952 đồng. Kể từ ngày 20/7/2024, bà Hoàng Thị Thanh Hằng còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
