|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 97/2024/HNGĐ-ST Ngày: 18/7/2024 V/v "Tranh chấp ly hôn " |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bảo Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phú Quý
Bà Trần Thị Lụa
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Phong Lan - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 172/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Hồng P, sinh năm 1997
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Ông KIM M, sinh năm 1973.
Địa chỉ: G, H - ri, Daesin-myeon, Y - si, G – do (Hàn Quốc).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đặng Thị Hồng P trình bày và yêu cầu:
Bà và ông Kim M1 xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Cần Thơ theo theo Giấy chứng nhận kết hôn 105/2019 ngày 22/4/2019. Sau khi kết hôn, ông Kim M1 bảo lãnh bà sang Hàn Quốc sinh sống từ tháng 10/2019 đến tháng 5/2020 thì bà ra đi và ly thân với ông Kim M1 từ đó. Nguyên nhân là do bất đồng ngôn ngữ nên thường xảy ra mâu thuẫn, đến tháng 8/2023 thì bà trở về Việt Nam. Từ khi không chung sống với ông Kim M1 đến nay, bà và ông Kim M1 không còn liên lạc gì với nhau. Hiện tại tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Kim M1.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung không có nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Kim M1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không thu thập được ý kiến của ông.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tại phiên tòa: những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, do hai bên bất đồng quan điểm, thời gian ly thân kéo dài, hai bên không còn quan tâm đến với nhau, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án chấp nhận cho bà Đặng Thị Hồng P được ly hôn với ông Kim M1.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Đặng Thị Hồng P khởi kiện xin ly hôn với ông Kim M1 cư trú tại Hàn Quốc nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bà Đặng Thị Hồng P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn ông Kim M1 đã được Tòa án tống đạt thông báo hợp lệ về thời gian mở phiên tòa nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do. Vì vậy, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là có căn cứ.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị Hồng P và ông Kim M1 chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 105/2019 ngày 22/4/2019 nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Theo bà P trình bày, sau khi kết hôn thì ông Kim M1 bảo lãnh bà sang Hàn Quốc sinh sống từ tháng 10/2019 đến tháng 5/2020 thì bà không còn chung sống với ông Kim M1. Do bất đồng ngôn ngữ nên xảy ra mâu thuẫn, đến tháng 8/2023 thì bà trở về Việt Nam. Từ khi không còn chung sống với nhau đến nay, giữa bà và ông Kim M1 cũng không có liên lạc gì với nhau và do tình cảm không còn, nên bà xin ly hôn với ông Kim M1.
Xét thấy, giữa bà P và ông Kim M1 đã có thời gian dài sống ly thân, mỗi người ở một quốc gia, không quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau nên tình cảm thật sự phai nhạt, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận cho bà P được ly hôn với ông Kim M1 là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà P khai không có nên không yêu cầu, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác khi có yêu cầu.
[4] Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc cho bà P được ly hôn với ông Kim M1 là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[5] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng và lệ phí ủy thác, chi phí thông báo tố tụng, nguyên đơn phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 153, khoản 2 Điều 227, khoản 6 Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị Hồng P.
- - Về hôn nhân: Cho bà Đặng Thị Hồng P được ly hôn với ông Kim M1.
- - Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà P trình bày không có nên không xem xét giải quyết.
- Án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Đặng Thị Hồng P phải chịu 300.000₫ (ba trăm ngàn đồng), nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà P đã nộp theo Biên lai thu số 0001992 ngày 18 tháng 10 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ, bà P đã nộp đủ tiền án phí.
- Về chi phí tố tụng: Bà Đặng Thị Hồng P phải chịu 200.000 đồng lệ phí ủy thác tư pháp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp 200.000 đồng theo Biên lai thu số 0000130 ngày 14/12/2023 của Cục thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Bà P còn phải chịu chi phí đăng thông báo tố tụng cho ông Kim M1. Bà P đã nộp đủ chi phí tố tụng.
- Về quyền kháng cáo: Bà Đặng Thị Hồng P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết; Ông Kim M1 được quyền kháng cáo trong hạn 30 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm theo luật định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Bảo Anh |
Bản án số 97/2024/HNGĐ-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 97/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận ly hôn
