TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 97/2024/HS-ST
Ngày 17-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hiền
Ông Phạm Ngọc Thanh
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông Hải - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 99/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Văn Đ, sinh ngày 02 tháng 6 năm 1975 tại A, Kiên Giang; CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp M, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa: 2/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Trần Văn Q (đã chết) và bà Trần Thị C (đã chết); vợ Phạm Thị Mỹ N; chưa có con; Tiền án; tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 05/6/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Phạm Thị Mỹ N, sinh năm 1972. Địa chỉ: ấp M, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang (vợ bị cáo; Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ ngày 05/01/2024, tại ấp M, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Bị can Trần Văn Đ có tổ chức uống bia tại nhà, tham gia cùng với Đ gồm có: Bà Phạm Thị Mỹ N là vợ của Đ, vợ chồng ông Nguyễn Văn S và vợ chồng ông L. Uống đến khoảng 14 giờ cùng ngày khi gần hết 02 thùng bia thì nghỉ, vợ chồng ông S và vợ chồng ông L từ giả ra về.
Đến khoảng 03 giờ ngày 06/01/2024, bị can Đ gọi điện thoại cho ông S rủ đến nhà nhậu tiếp nhưng ông S từ chối, Đ tiếp tục gọi điện thoại cho ông Mai Văn N1 rủ đến nhà nhậu thì ông N1 đồng ý, khi ông N1 đến thì cùng Đ ngồi uống bia tại vạc phía nhà trước, đến khoảng 06 giờ cùng ngày thì hết bia nên cả hai nghỉ uống. Sau khi ông N1 ra về, bà Mỹ N nằm võng ở phía trước hiên nhà nói "không làm ra tiền mà nhậu tối ngày", nghe vậy bị can Đời cự cải với bà Mỹ N, bị bà Mỹ N chửi nên bị can Đ tức giận đi ra nhà sau lấy 01 thanh kim loại dài 41,7cm, loại ống kẻm vuông 3 x 3cm, lòng rỗng, rồi đi đến vị trí bà Mỹ N đang nằm võng, dùng thanh kim loại đánh trúng vào cẳng chân phải của bà Mỹ N gây thương tích. Sau đó, bà Phạm Thị Mỹ N đến Trung tâm Y tế huyện A điều trị. Ngày 22/02/2024, bà Phạm Thị Mỹ N có đơn yêu cầu xử lý hình sự và giám định thương tích.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 237/KLTTCT-PY ngày 15/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh K, kết luận:
1. Các kết quả chính:
- Kết quả khám giám định: Chấn thương cẳng chân phải gây gãy hở 1/3 dưới xương chày phải đã được điều trị. Hiện tại can xương xấu, lệch trục, có ngắn chi.
- Kết quả cận lâm sàng: Kết quả Xquang cẳng chân phải. Gãy 1/3 dưới xương chày phải.
2. Kết luận:
2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Thị Mỹ N tại thời điểm giám định là: 17% (Mười bảy phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại thông tư.
2.2. Vật gây thương tích: Vật tày.
2.3. Về thời điểm hình thành thương tích: Thương tích ở cẳng chân phải có cùng ngày xảy ra vụ việc ngày 06/01/2024.
Tại bản Kết luận vật gây thương tích số: 238/KLVGTT-PY ngày 15/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh K, kết luận:
1. Các kết quả chính:
- Mẫu vật thanh kim loại gửi giám định là dạng vật tày.
- Thương tích ở vùng 1/3 dưới cẳng chân phải của bà Phạm Thị Mỹ N do vật tày gây nên.
2. Kết luận:
- Căn cứ kết quả giám định vật gây thương tích được cơ quan trưng cầu giám định gửi đến, xác định: Mẫu vật thanh kim loại gửi giám định có thể gây ra được thương tích ở vùng cẳng chân phải của bà Phạm Thị Mỹ N.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 (Một) thanh kim loại dài 41,7cm, loại ống kẻm vuông 3 x 3cm, lòng rỗng.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là bà Phạm Thị Mỹ N không yêu cầu bị can Trần Văn Đ bồi thường chi phí điều trị thương tích và các khoản thiệt hại khác.
Tại Cáo trạng số: 77/CT-VKS-AM ngày 19-8-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Trần Văn Đời về tội Cố ý gây thương tích quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Trần Văn Đ phạm tội cố ý gây thương tích và đề nghị: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn Đ từ 09 đến 12 tháng tù; Về trách nhiệm dân sự, đề nghị ghi nhận việc bồi thường tại tòa; Về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy theo quy định pháp luật.
- Bị cáo trình bày: Thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã gây ra, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Bị hại: nhận số tiền bồi thường tại tòa 500.000 đồng và không yêu cầu bồi thường thêm; về trách nhiệm hình sự xin giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 06 giờ, ngày 06/01/2024 tại ấp M, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang, do xảy ra mâu thuẫn với vợ là bà Phạm Thị Mỹ N, trong lúc cãi nhau bị bà N chửi nên Trần Văn Đ tức giận đi ra phía sau nhà lấy 01 thanh kim loại dài 41,7cm, loại ống kẽm vuông 3x 3cm, lòng rỗng đánh trúng vào cẳng chân phải của bà Mỹ N, hậu quả làm cho bà Mỹ N bị thương. Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 237/KLTTCT-PY ngày 15/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh K kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà Mỹ N tại thời điểm giám định là 17% (Mười bảy phần trăm).
[3] Về tội phạm: Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Trần Văn Đ phạm tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật. Bởi lẽ:
[3.1] Về tội danh: Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức được việc dùng thanh kim loại dài 41,7cm, loại ống kẽm vuông 3x 3cm, lòng rỗng đánh trúng vào người khác sẽ gây thương tích nhưng bị cáo vẫn thực hiện nên thuộc trường hợp phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; hậu quả làm bị hại bị tổn thương cơ thể 17%. Do đó, hành vi của bị cáoĐời đã cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
[3.2] Về định khung hình phạt: công cụ bị cáo dùng để gây thương tích cho bị hại là thanh kim loại được xác định là hung khí nguy hiểm, đây là tình tiết định tội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do bị hại bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ 17% nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung tại điểm a khoản 1 Điều này. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Trần Văn Đ phạm tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Về hình phạt:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của bị hại. Sức khỏe là vốn quý giá của con người, không ai được quyền xâm phạm một cách trái pháp luật. Hành vi của bị cáo không chỉ gây tổn thương sức khỏe cho bị hại mà còn gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Do đó, HĐXX cần xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe bị cáo và giáo dục phòng ngừa chung.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; tại phiên tòa đã bồi thường đầy đủ cho bị hại; cha bị cáo là người có công với cách mạng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, HĐXX xác định bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[4.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng có khung hình phạt từ 02 đến 06 năm tù, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự; đối tượng bị cáo xâm phạm là vợ của bị cáo nên gây phẫn nộ trong nhân dân, chỉ vì mâu thuẫn trong lúc cãi nhau mà bị cáo đã gây thương tích cho vợ của bị cáo nên cần phải áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn. Khi quyết định hình phạt thấy bị cáo mới phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên thống nhất đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị truy tố, xét xử nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận bồi thường tại tòa số tiền 500.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng: Công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự
[7] Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1- Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Đ phạm tội Cố ý gây thương tích.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 06 (sáu) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 05/6/2024).
2- Về trách nhiệm dân sự: HĐXX không xem xét.
3- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) thanh kim loại dài 41,7cm, loại ống kẽm vuông 3 x 3cm, lòng rỗng (Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 41/QĐ-VKS-AM ngày 19-8-2024 của VKSND huyện An Minh).
4- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Trần Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
5- Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 17-9-2024)./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 97/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về vụ án hình sự cố ý gây thương tích
- Số bản án: 97/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Đ phạm tội Cố ý gây thương tích
