Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2024/DS-ST

Ngày 17-4-2024

V/v tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Len

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Trường

Ông Hồ Quang Minh

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Nga Muội – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 45/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần S; Địa chỉ: Số A N, phường B, Thành phố V, tỉnh Nghệ An; Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Thanh T, sinh năm 1989; Địa chỉ: Số B, đường C, phường E, thành phố C (có mặt)

- Bị đơn: Bà Bùi Thị A; Sinh năm: 1982 (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 16/5/2020 bà Bùi Thị A ký hợp đồng cầm cố với Công ty TNHH S1 (chi nhánh C) (nay là Công ty Cổ phần S Có Ngay) (Công ty) theo hợp đồng cầm cố CNM200501017NA18X, tài sản cầm cố 01 xe môtô hai bánh BKS 69N1-439.75, loại xe Honda Airblade 125cc Fi, màu Black số khung 6327HZ014522 – số máy JF63E2017588, số chứng nhận đăng ký xe môtô số 027003 do Công an huyện T cấp ngày 08/01/2018 do bà Bùi Thị A đứng tên.

Việc cầm cố tài sản có đăng ký giao dịch Đảm bảo trên hệ thống Đăng ký Trực tuyến của Cục Đ Giaodichdambao/botuphap:1369296224 theo Wed: https://dktructuyen.moj.gov.vn/Do bà A không có xe đi lại nên Công ty và bà A có thỏa thuận bà A mượn lại xe cầm cố trong thời hạn 30 ngày để đi lại.

Số tiền cầm cố 17.400.000 đồng với lại suất cố định 1,1%/tháng, thời hạn cầm cố 12 tháng (từ ngày 16/5/2020 đến ngày 16/5/2021), thời hạn thanh toán tiền kỳ hàng tháng 1.974.249,69 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà A không thanh toán trả tiền cầm cố hàng tháng theo hợp đồng cầm cố. Ngày vi phạm hợp đồng, chỉ đóng được 04 tháng đầu, bất đầu vi phạm hợp đồng từ ngày 01/10/2020 đến đến nay không đóng lãi tiếp, số tiền gốc còn thiếu 12.709.000 đồng.

Tại phiên tòa đại diện Công ty yêu cầu bà A phải thanh toán số tiền gốc cầm cố và lãi từ ngày 17/10/2020 đến ngày 17/4/2024 (43 tháng) trên số tiền nợ gốc 12.709.000 đồng cụ thể: lãi (trong hạn) là 12.709.000 đồng x 8 tháng x 1,1%/tháng = 1.118.000 đồng (làm tròn); lãi (quá hạn) 12.709.000 đồng x 35 tháng x 1,1%/tháng x 150% = 7.339.000 đồng (làm tròn). Tổng số tiền bà A phải trả là 21.166.000 đồng = 12.709.000 đồng + 1.118.000 đồng + 7.339.000 đồng. Công ty đồng ý trả lại chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 027003 do Công an huyện T cấp ngày 08/01/2018 do bà Bùi Thị A đứng tên.

Bà Bùi Thị A đã được Tòa án tổng đạt các văn bản tố tụng nhưng không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và không có ý kiến cũng như văn bản trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án; trên cơ sở xem xét toàn diện tài liệu, chứng cứ, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1] Về tố tụng: Quan hệ pháp luật tranh chấp là hợp đồng cầm cố tài sản, bị đơn có nơi cư trú tại huyện T, do đó Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vắng mặt đương sự: Bà Bùi Thị A đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà A đúng theo quy định.

[2] Về nội dung vụ án: Vào ngày 16/05/2020 giữa Công ty và bà Bùi Thị A có ký kết hợp đồng cầm cố tài sản để vay số tiền 17.400.000 đồng, lãi suất 1,1%/tháng, thời hạn cầm cố 12 tháng, bà A đã thanh toán cho Công ty tiền gốc và lãi không đầy đủ, còn nợ lại tiền gốc 12.709.000 đồng, thời hạn thanh toán trễ hạn theo hợp đồng từ ngày 01/10/2020, đến nay 43 tháng (Công ty yêu cầu làm tròn). Công ty yêu cầu bà A phải có trách nhiệm trả số tiền gốc và lãi trong hạn, lãi quá hạn tổng số tiền 21.166.000 đồng.

[3] Xét hợp đồng cầm cố tài sản số CNM200501017NA18X ngày 16/5/2020 giữa Công ty và bà Bùi Thị A là sự tự nguyện thỏa thuận và phù hợp với quy định tại Điều 309 Bộ luật dân sự, lãi suất các bên thỏa thuận phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự. Trong quá trình thực hiện hợp đồng Công ty đã giao đủ tiền cho bà A nhưng bà A không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết, cần buộc bà A thanh toán cho Công ty số tiền gốc và lãi như sau:

Đến thời điểm xét xử sơ thẩm (ngày 17/4/2024) bà A đã quá hạn hợp đồng 43 tháng (trong đó trong hạn 8 tháng và quá hạn 35 tháng), số tiền gốc còn thiếu 12.709.000 đồng.

Lãi trong hạn: 12.709.000 đồng x 8 tháng x 1,1 %/tháng = 1.118.000 đồng (làm tròn).

Lãi trên nợ gốc quá hạn: 12.709.000 đồng x 35 tháng x 1,1%/tháng x 150% = 7.339.000 đồng (làm tròn)

Tổng số tiền bà A phải trả cho Công ty là 21.166.000 đồng = 12.709.000 đồng + 1.118.000 đồng + 7.339.000 đồng.

[4] Khi bà A vay tiền Công ty và cầm cố 01 xe môtô hai bánh BKS 69N1-439.75, loại xe Honda Airblade 125ccFi, số khung – số máy JM51E1369768, số chứng nhận đăng ký xe môtô số 027003 do Công an huyện T cấp ngày 08/01/2018 do bà Bùi Thị A đứng tên để đảm bảo khoảng vay. Tài sản bà A cầm cố bà A đang quản lý, sử dụng.

Tòa án ghi nhận sự tự nguyện của Công ty trả lại cho bà Bùi Thị A giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 027003 do Công an huyện T cấp ngày 08/01/2018 do bà Bùi Thị A đứng tên.

[5] Về án phí có giá ngạch: Công ty không phải chịu án phí sơ thẩm, bà A phải chịu án phí sơ thẩm là 1.058.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 309, khoản 1 Điều 314 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần S Có Ngay đối với bà Bùi Thị A. Buộc bà Bùi Thị A phải trả cho Công ty Cổ phần S Có Ngay số tiền 21.166.000 đồng (Hai mươi một triệu, một trăm sáu mươi sáu ngàn đồng).

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người bị thi hành án không thi hành xong khoản tiền phải thi hành án thì còn phải chịu thêm khoản tiền lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.

    Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty Cổ phần S Có Ngay trả lại cho bà Bùi Thị A giấy chứng nhận đăng ký xe môtô, xe máy số 027003 do Công an huyện T cấp ngày 08/01/2018 do bà Bùi Thị A đứng tên.

  2. Án phí sơ thẩm: Ngày 11/01/2024 Công ty Cổ phần S Có Ngay tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số tiền 1.005.000 đồng biên lai thu số 0004383 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được nhận lại.

    Bà Bùi Thị A phải chịu án phí sơ thẩm 1.058.000 đồng (chưa nộp).

  3. Án xử sơ thẩm, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND H. Trần Văn Thời;
  • - Chi cục THADS H. Trần Văn Thời;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Len

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2024/DS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản

  • Số bản án: 97/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty S khởi kiện yêu cầu bà Bùi Thi A trả tiền vay
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger