TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ Bản án số: 97/2023/HS-ST Ngày 16 - 11 - 2023 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Quân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Quách Thị Tình
2. Ông Đinh Văn Tân – Cán bộ đoàn
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Vũ Minh Tuệ - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 100/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:
Họ và tên: Hà Thị H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 02/02/1982, tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: thôn C, xã Đ, huyện B, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện tại: Khu phố X, thị trấn V, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Họ tên cha: Hà Hồng S; Họ tên mẹ: Hà Thị P; Họ tên chồng: Không có; Có hai con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án/Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/5/2023 đến ngày 01/06/2023 chuyển tạm giam cho đến nay, Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Thanh Hóa.
Họ và tên: Phạm Văn H1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 16/12/1987, tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú, chỗ ở hiện nay: Khu phố, Phố C, thị trấn V, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Họ tên cha: Phạm Văn L (Đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T ( Đã chết); Họ tên vợ: Hiện đã ly hôn; Có hai con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án/Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 25/9/2015 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 03 tháng tù về tội Đánh bạc; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/5/2023 đến ngày 01/06/2023 chuyển tạm giam cho đến nay, Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Thanh Hóa.
Họ và tên: Phan Công H2; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 20/10/1967, tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú, chỗ ở hiện tại: Khu phố T, thị trấn V, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Họ tên cha: Phan Công H3 (Đã chết); Họ tên mẹ: Phạm Thị G; Họ tên vợ: Đàm Thị T1; Có hai con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1997; Tiền án/Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 21/01/2020 bị Công an huyện T xử phạt hành chính phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. Bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/5/2023 đến ngày 01/6/2023. Sau đó được áp dụng biện pháp C đi khỏi nơi cư trú đến nay.
Họ và tên: Lê Đăng N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 20/10/1972, tại Thanh Hóa; Nơi thường trú, chỗ ở hiện tại: Thôn E, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Lê Đăng H4 (Đã chết); Họ tên mẹ: Lê Thị O ( Đã chết); Họ tên vợ: Lê Thị T2; Có bốn con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án/Tiền sự: Không; Bị can bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/5/2023 đến ngày 01/6/2023. Sau đó được áp dụng biện pháp C đi khỏi nơi cư trú đến nay.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Hà Thị H: Ông Phạm Thanh T3 – Trợ giúp viên pháp lý, Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 05, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T.
Địa chỉ: thị trấn K, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
* Người bị hại:
- Chị Trương Thị Cẩm L1, sinh ngày: 07/08/2005(Có mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện B, tỉnh Thanh Hóa
- Chị Hà Thị O1, sinh ngày: 14/09/2005 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã G, huyện L, tỉnh Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào chiều ngày 25/05/2023, Hà Thị H sinh năm 1982, trú tại thôn C, xã Đ, huyện B, tỉnh Thanh Hóa cùng Hà Thị O1 sinh ngày 14/9/2005, trú tại thôn H, xã G, huyện L, tỉnh Thanh Hóa và Trương Thị Cẩm L1 sinh ngày 07/08/2005, trú tại thôn C, xã Đ, huyện B, tỉnh Thanh Hóa đi đến nhà ông M, trú tại Khu phố X, thị trấn V, huyện T để ăn cơm, thì có Phan Công Hiếu sinh năm 1967, trú tại khu phố T, thị trấn V, huyện T, sử dụng số thuê bao 0339219836 gọi đến số thuê bao 0979828535 của H và hỏi H đang ở đâu, thì H trả lời đang ở trong nhà ông M. Sau đó, H2 đi đến nhà ông M tìm gặp H, khi gặp H2 có hỏi 02 người con gái đi cùng H là ai (tức Hà Thị O1 và Trương Thị Cẩm L1), thì H2 được H cho biết đấy là cháu gái của H mới xuống chơi. Lúc này, H2 nảy sinh ý định mua dâm đối với L1, nên H2 đã bảo với H tối cho L1 đi chơi cùng với H2 (tức đi bán dâm cho H2) thì được H đồng ý. Sau đó, H2 đi về, trên đường về H2 có gọi cho Lê Đăng N sinh năm 1972, trú tại thôn E, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa hiện là công nhân nhà máy Đ - Đài Loan, để rủ N tối cùng đi mua dâm. Khi đấy H2 có bảo với N là “Con H có hai con bé đang còn trẻ lắm, tối chú có làm tý không”, thì được N đồng ý, nhưng N bảo lại với H2 là không còn tiền. Lúc này, H2 bảo N cứ đi cùng H2, còn tiền thì H2 cho N vay số tiền là 1.000.000 đồng, khi nào lấy lương thì trả cho H2. Đến khoảng hơn 20 giờ cùng ngày, khi H đang cùng O1, L1 và Phạm Văn H1 sinh năm 1987, trú tại khu phố P, thị trấn V, huyện T là bạn trai của H, ở tại nhà thuê trọ của H tại khu phố X, thị trấn V, huyện T thì H nhận được cuộc gọi điện thoại của H2, lúc này H2 bảo H đưa L1 và O1 ra Nhà nghỉ H6, tại khu phố P, thị trấn V, huyện T để bán dâm cho H2 và N, nhưng do H không biết Nhà nghỉ H6 ở chỗ nào, nên H2 tiếp tục bảo H đưa L1 và O1 ra Nhà nghỉ D1 (tức Nhà nghỉ Đ1 cơ sở 02), tại khu phố P, thị trấn V. Do H vẫn không biết Nhà nghỉ Đ1 ở đâu, nên H đã bảo H1 chở L1 và O1 ra Nhà nghỉ Đ1 để bán dâm cho H2 và N. Sau đó, H1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JANUS, màu sơn đỏ, Biển kiểm soát 36G5-258.05 chở L1 và O1 đến nhà nghỉ Đ1 cơ sở 2, do bà Lê Thị D sinh năm 1968, trú tại khu phố P, thị trấn V làm chủ. Khi đến do không thấy H2 và N, nên H1 đã mượn điện thoại của L1 gọi cho H để hỏi H lý do H2 và N chưa đến, thì được H cho biết đã gọi điện cho H2 và H2 cùng N đang trên đường đến, H bảo H1 ở đấy đợi. Sau đó, H1 gặp bà D để thuê 02 phòng nghỉ 108 và 109, mục đích cho L1 và O1 bán dâm cho H2 và N. Khoảng một lúc sau, thì H2 và N đến, lúc này H1 bảo H2 là L1, O1 đang ở trong phòng, sau đó thì H1 đi về, còn H2 và N đi vào phòng 109 thì gặp L1, O1 đang ở đây. Sau đây, H2 đưa L1 sang phòng 108 bên cạnh để mua dâm và quan hệ tình dục với L1. Tại phòng 109 sau khi vào phòng thì N cũng thực hiện quan hệ tình dục với O1. Sau khi quan hệ tình dục xong, H2 đưa cho L1 số tiền 300.000 đồng và N cũng đưa cho O1 số tiền là 300.000 đồng là tiền mua dâm (do trong khi đi đến nhà nghỉ Đ1, N có hỏi H2 về giá mua dâm, thì N được H2 cho biết giá chung của gái bán dâm là 300.000 đồng, nên sau khi quan hệ tình dục thì cứ đưa cho gái bán dâm số tiền trên). Sau đó, L1 và O1 rời khỏi phòng 108 và 109 trước, H2 và N đi ra sau, lúc này bà D thấy L1 và O1 đi ra, nên có hỏi tiền thuê phòng, thì H2 bảo với bà D, để tiền thuê 02 phòng cho H2 trả. Sau đấy, H2 đã trả cho bà D số tiền 100.000 đồng tiền thuê của 02 phòng nghỉ cho bà D. Sau khi về đến nhà trọ, L1 đưa lại số tiền 300.000 đồng cho O1, để O1 đưa lại toàn bộ số tiền bán dâm được vào tối ngày 25/05/2023 là 600.000 đồng cho H cất giữ.
Đến khoảng 23 giờ, ngày 25/05/2023 Công an thị trấn V, huyện T tiến hành kiểm tra tạm trú tại nhà trọ thuê của Hà Thị H, thì phát hiện Hà Thị O1 và Trương Thị Cẩm L1 chưa đăng ký tạm trú tại thị trấn V, nên đã đưa O1 và L1 đến Công an thị trấn V để làm việc. Quá trình làm việc, cả L1, O1 đều khai nhận vào tối ngày 25/05/2023 đã được Hà Thị H môi giới, làm trung gian để bán dâm cho Phan Công H2 và Lê Đăng N. Công an thị trấn V đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với Hà Thị O1 và Trương Thị Cẩm L1 về hành vi bán dâm. Đồng thời chuyển hồ sơ đến Cơ quan điều tra Công an huyện T để tiến hành xác minh, điều tra theo thẩm quyền.
Đến ngày 26/05/2023 nhận thấy hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật, không thể che dấu, trốn tránh, nên Hà Thị H, Phạm Văn H1, Lê Đăng N và Phan Công H2 đã đến Công an huyện T đầu thú, thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Nội dung khai báo của các đối tượng phù hợp với nội dung khai báo của Trương Thị Cẩm L1, Hà Thị O1, cùng các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được.
Tại Bản kết luận giám định số 53/KLXHTD-PYTD, ngày 21 tháng 06 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận: Test PSA: Dương tính (có tinh dịch trên các mẫu dịch thu được từ bộ phận sinh dục của Trương Thị Cẩm L1; Màng trinh: Rách cũ vị trí 03 giờ (Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác về thời gian rách màng trinh của Trương Thị Cẩm L1); Dấu vết tăm bông thu chất bám dính trên bộ phận sinh dục của Trương Thị Cẩm L1 có ADN nhiễm sắc thể Y.
Tại Bản kết luận giám định số 54/KLXHTD-PYTD, ngày 21 tháng 06 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận: Soi tinh trùng: Hiện thấy hình ảnh xác tinh trùng trên mẫu thu được của âm đạo Hà Thị O1; Test PSA: Dương tính (có tinh dịch trên các mẫu dịch thu được từ bộ phận sinh dục của Hà Thị O1; Màng trinh: Rách cũ vị trí 03 giờ, 09 giờ (Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác về thời gian rách màng trinh của Hà Thị O1); Dấu vết tăm bông thu chất bám dính trên bộ phận sinh dục của Hà Thị O1 có ADN nhiễm sắc thể Y.
Căn cứ kết quả giám định pháp y tình dục của Trương Thị Cẩm L1 và Hà Thị O1. Cơ quan điều tra đã tiến hành giám định bổ sung pháp y tình dục, để xác định ADN đã thu được trên bộ phận sinh dục của Trương Thị Cẩm L1 và Hà Thị O1 có trùng khớp với ADN của Phan Công H2 và Lê Đăng N. Tại bản kết luận giám định bổ sung xâm hại tình dục số: 72, 73/KLXHTD-PYTH, ngày 24 tháng 07 năm 2023 của Trung tâm P, kết luận: ADN nhiễm sắc thể Y từ mẫu tóc của Phan Công H2 trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể Y từ dấu vết trên tăm bông thu chất bám dính trên bộ phận sinh dục của Trương Thị Cẩm L1; ADN nhiễm sắc thể Y từ mẫu tóc của Lê Đăng N trùng khớp với ADN nhiễm sắc thể Y từ dấu vết trên tăm bông thu chất bám dính trên bộ phận sinh dục của Hà Thị O1.
Trong quá trình điều tra, giải quyết vụ, Cơ quan điều tra đã kiểm tra, trích xuất dữ liệu Camera an ninh tại Nhà nghỉ Đ1 và thu giữ 03 đoạn video, được lưu tên lần lượt là "Video 1", "Video 2", "Video 3". Cơ quan điều tra đã Trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh T, giám định Kỹ thuật số điện tử, để xác định các đoạn video đã thu giữ có bị cắt ghép, chỉnh sửa hay không. Tại Bản kết luận giám định số: 2539/KL-KTHS, ngày 05/07/2023 của Phòng K, kết luận: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 03 (một) tệp video của 01 (một) USB gửi giám định.
Cơ quan điều tra cũng đã tiến hành trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh, tiến hành giám định Kỹ thuật số điện tử, khôi phục toàn bộ dữ liệu điện tử liên quan, trong 03 chiếc điện thoại di động đã tạm giữ của Hà Thị H, Phan Công H2 và Lê Đăng N. Tại Bản kết luận giám định số: 2788/KL-KTHS, ngày 31 tháng 07 năm 2023, của Phòng K- Công an tỉnh T, kết luận: Không tìm thấy dữ liệu đã xóa trong các điện thoại gửi giám định.
Đối với bà Lê Thị D là chủ Nhà nghỉ Đ1. Khi H1 đưa Trương Thị Cẩm L1 và Hà Thị O1 đến để thuê phòng 108 và 109, thì H1 không trao đổi cho bà D biết mục đích thuê 02 phòng nghỉ để cho L1 và O1 bán dâm. Sau đó, khi Phan Công H2 và Lê Đăng N đến Nhà nghỉ và đi vào phòng 108, 109 đề quan hệ tình dục vơi L1 và O1, thì lúc này bà D đang ăn cơm ở trong phòng. Bà D không chỉ dẫn cho H2 và N vào phòng của L1 và O1; bà D cũng không biết việc H2 và N đến để mua dâm L1 và O1. Do đó, hành vi của bà Lê Thị D không phải là tội phạm.
Đối với Hà Thị O1 và Trương Thị Cẩm L1 đã có hành vi bán dâm, Cơ quan điều tra đã chuyển Công an huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ những tài sản gồm:
01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JANUS, màu sơn đỏ, Biển kiểm soát 36G5-258.05 xe cũ đã qua sử dụng;
01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J4+, có vỏ màu đồng, ốp vỏ ngoài bằng nhựa màu nâu – bạc; số seri R58KAILAPLE; điện thoại cũ đã qua sử dụng;
01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, có vỏ màu đen, ốp ngoài bằng nhựa màu nâu; Số seri 65EQ95BIW47PKFGM; điện thoại cũ đã qua sử dụng;
01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A01, có vỏ màu đen, ốp ngoài bằng nhựa màu xanh; Số seri R9JN301SF7J; điện thoại cũ đã qua sử dụng.
Những vật chứng nêu trên hiện đang được bảo quản chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với số tiền 600.000 đồng là tiền mua dâm Phan Công H2 trả cho Trương Thị Cẩm L1 và Lê Đăng N trả cho Hà Thị O1. Sau khi về nhà trọ, O1 và L1 đã đưa toàn bộ số tiền trên cho Hà Thị H cất giữ. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra, H cho rằng sau khi nhận tiền của O1 và L1, thì H đã để lại số tiền trên dưới đáy chiếu tại phòng khách, vị trí L1 và O1 ngủ, nên sau đấy số tiền 600.000 đồng ai cầm, giữ thì H không biết. Cơ quan điều tra, đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của H, nhưng không thu được số tiền 600.000 đồng trên.
Tại bản cáo trạng số 102/CT-VKSTT, ngày 17/10/2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Hà Thị H, Phạm Văn H1 về tội “Môi giới mại dâm” theo điểm a, đ khoản 2 Điều 328 Bộ Luật hình sự (Sau đây được viết tắt là BLHS). Truy tố bị cáo Phan Công H2 và Lê Đăng N về tội “Mua dâm người dưới 18 tuổi” theo khoản 1 Điều 329 Bộ Luật hình sự.
* Phần tranh tụng tại phiên tòa:
-Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
+ Áp dụng điểm a, đ khoản 2 Điều 328; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 BLHS đối với Hà Thị H và Phạm Văn H1. Đề nghị mức hình phạt từ 42 đến 48 tháng tù đối với bị cáo H và từ 40 đến 45 tháng tù đối với bị cáo H1. Thời gian chấp hành hình phạt kể từ ngày 26/5/2023.
+ Đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 329; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 BLHS đối với bị cáo Phan Công H2 và Lê Đăng N (Áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 cho bị cáo H2); Đề nghị mức hình phạt từ 18 đến 24 tháng tù cho hưởng án treo đối với bị cáo H2 và từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo đối với bị cáo N. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
+ Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
+ Đề nghị truy thu bị cáo H 600.000đ để sung quỹ nhà nước.
+ Đề nghị HĐXX trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JANUS, màu sơn đỏ, Biển kiểm soát 36G5- 258.05 xe cũ đã qua sử dụng là vật không liên quan đến hành vi phạm tội.
+ Đề nghị tịch thu sung quỹ: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J4+, có vỏ màu đồng, ốp vỏ ngoài bằng nhựa màu nâu – bạc; số seri R58KAILAPLE; điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, có vỏ màu đen, ốp ngoài bằng nhựa màu nâu; Số seri 65EQ95BIW47PKFGM; điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A01, có vỏ màu đen, ốp ngoài bằng nhựa màu xanh; Số seri R9JN301SF7J; điện thoại cũ đã qua sử dụng là những vật liên quan đến hành vi phạm tội.
* Phần tranh tụng tại phiên tòa:
- Bị cáo Hà Thị H, Phạm Văn H1, Phạm Công H5 và Lê Đăng N thống nhất với diễn biến hành vi phạm tội như bản cáo trạng mô tả. Các bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo H5 thống nhất đứng ra bồi thường thay cho các bị cáo và không đề nghị các bị cáo khác phải bồi hoàn lại cho mình.
- Người bị hại là chị Trương Thị Cẩm L1 thống nhất với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa. Về phần dân sự người bị hại yêu cầu các bị cáo phải bồi thường cho bị hại. Quá trình giải quyết vụ án bị cáo H5 đã đứng ra bồi thường thay cho các bị cáo nên bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm. Bị hại đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Người bị hại chị Hà Thị O1 có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt phần bồi thường dân sự chị không yêu cầu.
- Ý kiến trình bày của người bào chữa chi bị cáo Hà Thị H: Thống nhất với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, thống nhất với bản cáo trạng mô tả về hành vi phạm tội của các bị cáo. Đề nghị HĐXX xem xét đến điều kiện phạm tội của bị cáo H không vì mục đích vụ lợi nên đề nghị không xử phạt bổ sung đối với bị cáo. Bị cáo là dân tộc thiểu số, không biết chữ, sống vùng kinh tế khó khăn nên đề nghị HXX xem xét áp dụng điểm m khoản 1 Điều 51 BLHS do bị cáo phạm tội do lạc hậu và đề nghị miễn tiền án phí cho bị cáo.
Phần tranh luận các bị cáo, người bào chữa, người bị hại không có ý kiến tranh luận gì với VKS, lời sau cùng, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra, các bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa HĐXX chứng minh: Xuất phát từ nhu cầu mua dâm của Phạm Công H5 nên vào chiều ngày 25/05/2023, H5 sử dụng số thuê bao 0339219836 gọi đến số thuê bao 0979828535 của Hà Thị H sinh năm 1982, trú tại thôn C, xã Đ, huyện B, tỉnh Thanh Hóa và hỏi H đang ở đâu thì H trả lời đang ở trong nhà ông M trú tại Khu phố X, thị trấn V, huyện T để ăn cơm. Sau đó, H5 đi đến nhà ông M tìm gặp H, khi gặp H5 có hỏi 02 người con gái đi cùng H là ai (tức Hà Thị O1 sinh ngày 14/9/2005, trú tại thôn H, xã G, huyện L, tỉnh Thanh Hóa và Trương Thị Cẩm L1 sinh ngày 07/08/2005, trú tại thôn C, xã Đ, huyện B, tỉnh Thanh Hóa), H5 được H cho biết đấy là cháu gái của H mới xuống chơi. Lúc này, H5 nảy sinh ý định mua dâm đối với L1, nên H5 đã bảo với H tối cho L1 đi chơi cùng với H5 (tức đi bán dâm cho H5) thì được H đồng ý. Sau đó, H5 đi về, trên đường về H5 có gọi cho Lê Đăng N sinh năm 1972, trú tại thôn E, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa rủ N đi mua dâm thì được N đồng ý. Đến khoảng hơn 20 giờ cùng ngày, khi H đang cùng O1, L1 và Phạm Văn H1 sinh năm 1987, trú tại khu phố P, thị trấn V, huyện T là bạn trai của H, ở tại nhà thuê trọ của H tại khu phố X, thị trấn V, huyện T thì H nhận được cuộc gọi điện thoại của H5, lúc này H5 bảo H đưa L1 và O1 ra Nhà nghỉ H6, tại khu phố P, thị trấn V, huyện T để bán dâm cho H5 và N, nhưng do H không biết Nhà nghỉ H6 ở chỗ nào, nên H5 tiếp tục bảo H đưa L1 và O1 ra Nhà nghỉ D1 (tức Nhà nghỉ Đ1 cơ sở 02), tại khu phố P, thị trấn V. Do H vẫn không biết Nhà nghỉ Đ1 ở đâu, nên H đã bảo H1 chở L1 và O1 ra Nhà nghỉ Đ1 để bán dâm cho H5 và N. Sau đó, H1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JANUS, màu sơn đỏ, Biển kiểm soát 36G5-258.05 chở L1 và O1 đến nhà nghỉ Đ1 cơ sở 2, do bà Lê Thị D sinh năm 1968, trú tại khu phố P, thị trấn V làm chủ. Khi đến do không thấy H5 và N, nên H1 đã mượn điện thoại của L1 gọi cho H để hỏi H lý do H5 và N chưa đến, thì được H cho biết đã gọi điện cho H5 và H5 cùng N đang trên đường đến, H bảo H1 ở đấy đợi. Sau đó, H1 gặp bà D để thuê 02 phòng nghỉ 108 và 109, mục đích cho L1 và O1 bán dâm cho H5 và N. Khoảng một lúc sau, thì H5 và N đến, lúc này H1 bảo H5 là L1, O1 đang ở trong phòng, sau đó thì H1 đi về, còn H5 và N đi vào phòng 109 thì gặp L1, O1 đang ở đây. H5 đưa L1 sang phòng 108 bên cạnh để mua dâm và quan hệ tình dục với L1. Tại phòng 109 sau khi vào phòng thì N cũng thực hiện quan hệ tình dục với O1. Sau khi quan hệ tình dục xong, H5 đưa cho L1 số tiền 300.000 đồng và N cũng đưa cho O1 số tiền là 300.000 đồng là tiền mua dâm. Tiền phòng H5 đã trả cho bà D số tiền 100.000 đồng tiền thuê của 02 phòng nghỉ cho bà D. Khi về đến nhà trọ, L1 đưa lại số tiền 300.000 đồng cho O1, để O1 đưa lại toàn bộ số tiền bán dâm được vào tối ngày 25/05/2023 là 600.000 đồng cho H cất giữ. Vì vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận vào khoảng 21 giờ tối ngày 25/05/2023 bị cáo Hà Thị H và Phạm Văn H1 có môi giới mại dâm cho hai cặp nam nữ mua bán dâm là H5 và N. Thời điểm mua dâm hai gái bán dâm thì chị L1 mới 17 tuổi 9 tháng 18 ngày tuổi, O1 mới 17 tuổi 8 tháng 11 ngày tuổi là người chưa đủ 18 tuổi. VKS truy tố bị cáo Hà Thị H và Phạm Văn H1 về tội “Môi giới mại dâm” theo điểm a, đ khoản 2 Điều 328 Bộ Luật hình sự. Truy tố Phạm Công H5 và Lê Đăng N về tội “Mua dâm người dưới 18 tuổi” theo khoản 1 Điều 329 Bộ Luật hình sự là đúng người đúng tội đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, vai trò của hành vi phạm tội: Đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo phạm tội không có sự bàn bạc cấu kết chặt chẽ với nhau. Hà Thị H đã có hành vi môi giới cho các cặp nam nữ đến nhà nghỉ để bán dâm để lấy tiền có vai trò đầu. Đối với bị cáo Phạm Văn H1 có hành vi giúp sức chở gái bán dâm đến nhà nghỉ, thuê phòng để H5 và N thực hiện hành vi mua dâm với L1 và O1 do đó vai trò của H1 thấp hơn của H trong vụ án. Đối với người mua dâm là H5 và N, trong đó H5 là người khởi xướng việc mua dâm, yêu cầu H đưa gái bán dâm đến nhà nghỉ, trong đó H5 còn gọi điện rủ thêm Lê Đăng N tham gia cùng mua dâm với bị cáo nên vai trò của H5 cao hơn N là phù hợp. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng xâm phạm đến tình hình an ninh, trật tự và an toàn xã hội vì mại dâm là một tệ nạn xã hội mà Đảng, nhà nước và toàn thể nhân dân đang quan tâm giải quyết để loại trừ ra khỏi đời sống, xã hội bởi nó có tác hại nghiêm trọng đến đời sống, sức khoẻ, hạnh phúc của mọi người, mọi nhà. Mại dâm làm suy thoái về giống nòi, suy đồi về đạo đức, lối sống, gây nên dư luận bất bình trong quần chúng, nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến lối sống và thuần phong, mỹ tục, là một trong những nguyên nhân làm lây lan các căn bệnh truyền nhiễm như lậu, giang mai và căn bệnh thế kỷ HIV. Vì vậy HĐXX cần phải xử lý nghiêm để giáo dục, nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
[4]. Xét về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, bản thân không có tiền án, tiền sự. Các bị cáo sau khi phạm tội đã ăn năn hối cải ra đầu thú. Tại cơ quan điều tra đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên đều được áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo N gia đình là người có công nên áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Bị cáo H5 đã bồi thường nghĩa vụ dân sự thay cho các bị cáo, tại phiên tòa người bị hại xin giảm nhẹ cho các bị cáo nên áp dụng điểm b khoản 1, 2 Điều 51 BLHS cho các bị cáo H5, H1, H. Tuy nhiên trong vụ án này có 04 bị cáo phạm tội về hai tội môi giới mại dâm và Mua dâm người dưới 18 tuổi. Do đó HĐXX cần xem xét hành vi của các bị cáo để phân hóa vai trò trách nhiệm hình sự mà các bị cáo phải chịu: Xét về hành vi “Môi giới mại dâm” của Hà Thị H và Phạm Văn H1 thấy rằng: Bị cáo Phạm Văn H1 không được bàn bạc việc mua dâm với H5 nhưng có vai trò giúp sức cho H để gái bán dâm bán dâm cho khách, H1 có vai trò chở gái bán dâm đến địa điểm bán dâm và thuê phòng để L1 và O1 bán dâm cho H5 và N do đó vai trò của H1 thấp hơn H nên trách nhiệm hình sự cũng thấp hơn H. Mặc dù H không nhằm mục đích vụ lợi nhưng có giữ tiền của gái bán dâm sau khi bán dâm và tạo điều kiện cho L1 và O1 có công ăn việc làm trái pháp luật nên có vai trò cao hơn H1 nên cần cách ly hai bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện cải tạo các bị cáo thành công dân có ích. Đối với bị cáo H5 và N có hành vi mua dâm người dưới 18 tuổi, trong đó vai trò của H5 rủ rê, lôi kéo Nuôi tham gia mua dâm nên có vai trò cao hơn. HĐXX xét thấy hai bị cáo H5 và N phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội đã đến cơ quan tố tụng đầu thú, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 BLHS nên HĐXX chưa cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà để các bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền và gia đình cũng đủ điều kiện cải tạo hai bị cáo thành công dân có ích.
[5] Về phần bồi thường dân sự: Chị L1 đã yêu cầu bồi thường đầy đủ. Đối với chị O1 quá trình giải quyết vụ án không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì nên HĐXX không xem xét.
[6] Về hình phạt tiền bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có tài sản thu nhập ổn định, chưa có động cơ vụ lợi không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
[7] Đối với số tiền thu lời bất chính. Tại phiên tòa bị cáo H thừa nhận việc nhận số tiền 600.000₫ các bị hại bán dâm nhưng khi cơ quan điều tra khám xét không thu giữ được vậy cần phải truy thu số tiền này từ bị cáo H để sung quỹ nhà nước là phù hợp.
[8] Về vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA JANUS, màu sơn đỏ, Biển kiểm soát 36G5-258.05 xe cũ đã qua sử dụng không phải là vật liên quan đến vụ án cần trả lại cho bị cáo H.
Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J4+, có vỏ màu đồng, ốp vỏ ngoài bằng nhựa màu nâu – bạc; số seri R58KAILAPLE thu của bị cáo H; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, có vỏ màu đen, ốp ngoài bằng nhựa màu nâu thu của bị cáo H5; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A01, có vỏ màu đen, ốp ngoài bằng nhựa màu xanh thu của bị cáo N là những vật liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
[9] Về án phí: Bị cáo H là người dân tộc thiểu số, sống vùng kinh tế khó khăn, tại phiên tòa bị cáo và người bào chữa cho bị cáo đều đề nghị HĐXX miễn tiền án phí cho bị cáo nên căn cứ Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn tiền án phí chho bị cáo.
Các bị cáo H1, H5 và N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Các bị cáo Hà Thị H và Phạm Văn H1 phạm tội “Môi giới mại dâm”. Bị cáo Phan Công H2 và Lê Đăng N phạm tội “Mua dâm người dưới 18 tuổi”.
Áp dụng: Điểm a, đ khoản 2 Điều 328; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 BLHS đối với Hà Thị H và Phạm Văn H1:
Xử phạt: Bị cáo Hà Thị H 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt kể từ ngày 26/05/2023
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn H1 40 (bốn mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/5/2023
Áp dụng: khoản 1 Điều 329; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65; Điều 17; Điều 58 BLHS đối với Phan Công H2 và Lê Đăng N (áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo H2)
Xử phạt: Bị cáo Phan Công H2 24 (hai mươi tư) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án.
Xử phạt: Bị cáo Lê Đăng N 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Phan Công H2 cho UBND Thị trấn V giám sát giao dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Lê Đăng N cho UBND xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS.
Áp dụng: Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106, Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Về dân sự: Bị hại là chị O1 không yêu cầu bồi thương nên không xem xét. Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của các bị cáo và bị hại L1 đã giải quyết xong.
Về vật chứng:
Trả lại cho bị cáo Hà Thị H chiếc xe máy YAMAHA JANUS, màu sơn đỏ, Biển kiểm soát 36G5-258.05.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J4+, có vỏ màu đồng, ốp vỏ ngoài bằng nhựa màu nâu – bạc; số seri R58KAILAPLE thu của bị cáo H; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, có vỏ màu đen, ốp ngoài bằng nhựa màu nâu thu của bị cáo H2; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A01, có vỏ màu đen, ốp ngoài bằng nhựa màu xanh thu của bị cáo N là những vật liên quan đến hành vi phạm tội.
Truy thu: Truy thu bị cáo Hà Thị H số tiền 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng) để sung quỹ nhà nước.
-Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hà Thị H. Các bị cáo Phạm Văn H1, Phan Công H2, Lê Đăng N mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử kín sơ thẩm có mặt các bị cáo, người bị hại là chị Trương Thị Cẩm L1, vắng mặt người bị hại là chị Hà Thị O1. Các bị cáo, người bị hại là chị Trương Thị Cẩm L1 có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại là chị Hà Thị O1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Văn Quân |
Bản án số 97/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ về vụ án hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 97/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Môi giới mại dâm
