TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 97/2024/HS-PT Ngày 16-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tùng
- Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Bình
- Ông Lê Hữu Chiến
- - Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Út Nhỏ - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 97/2024/TLPT-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn Phú T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số: 50/2024/HS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn Phú T, sinh năm 1999; tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: số C, hẻm A, đường N, khu phố D, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q (chết) và bà Trương Thị G; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 21/12/2017, bị Toà án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp xong hình phạt ngày 01/7/2018, đã được xóa án tích; bị bắt tạm giam ngày 22/01/2024; có mặt.
Bị hại:
- Anh Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1993; địa chỉ: khu phố A, Phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Anh Lê Trọng Lâm T1, sinh năm 1987; địa chỉ: khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
Các bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị: không.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: khoảng 00 giờ 50 phút ngày 29/7/2019, bị cáo T điện thoại thuê anh Nguyễn Hoàng L là nhân viên chạy xe taxi “Sao Đỏ” đến quán Karaoke “Bạch Yến” thị xã H, tỉnh Tây Ninh để chở T về huyện T, tỉnh Tây Ninh; trên đường đi T kêu anh L chạy đến nhà trọ “Kim Thủy” thuộc khu phố C, Phường D, thành phố T để rước Nguyễn Ngọc Q1 đi cùng. Trên đường đi T rủ Q1 chiếm đoạt điện thoại của anh L nhưng Q1 không đồng ý. Khi đến Bệnh viện đa khoa tỉnh T, Q1 giả vờ nói mẹ bị bệnh nên kêu L dừng xe để vào thăm, do không thấy Q1 trở ra nên T đi vào kêu Q1 ra tiếp tục đi về T. Khi đến vòng xoay thị trấn T thì T kêu L rẽ phải khoảng 50 mét, do sợ T rủ cướp tài sản anh L nên Q1 kêu dừng xe đi vào trong hẻm bên hông gần nhà anh T1. T mượn điện thoại Iphone 6s Plus của anh L để điện thoại cho Q1 nhưng Q1 không nghe máy. T xuống xe đi vào nhà anh T1 giả vờ vừa đi vừa nói “Mày ra lẹ đi, không ra tao đi vào”; lúc này cửa kéo nhà anh T1 chỉ khép hờ, T nhìn thấy có 01 người thanh niên đang nằm ngủ cạnh 02 điện thoại di động và 01 xe mô tô. T nảy sinh ý định trộm xe mô tô và điện thoại di động nhưng sợ anh L phát hiện. T quay ra trả điện thoại di động cho anh L và kêu anh L tiếp tục chở đến cầu T thì dừng lại. T xuống xe khoảng 05 phút thì kêu anh L chở quay lại khu vực trước nhà anh T1 để rước Q1. Anh L chở T quay lại và dừng xe bên lề phải đối diện nhà anh T1. T mượn điện thoại Iphone 6s Plus của anh L giả vờ gọi cho Q1 vừa đi qua nhà anh T1 lấy 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9 màu tím; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 210 màu đen bỏ vào trong túi quần và tiếp tục lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade biển số 70K1- 426.85 của anh T1 bỏ chạy. Anh L kêu trả lại điện thoại nhưng T chạy luôn. Trong quá trình bỏ chạy, T làm rơi mất 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9 của anh T1 và 01 điện thoại di độnghiệu Iphone 6s Plus của anh L; xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade biển số 70K1- 426.85 bán cho 01 người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) ở khu vực cửa khẩu M với số tiền 4.500.000 đồng, còn điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 210 màu đen bán cho tiệm cầm đồ (không rõ tên, địa chỉ) với số tiền 150.000 đồng và tiêu xài hết. Đến ngày 22/01/2024, T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Quảng Bình bắt theo lệnh truy nã.
* Kết luận định giá số 61/KL-HĐĐG ngày 25/9/2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận:
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade biển số 70K1- 426.85, số khung 363XGY025830, số máy JA36E0510858 có giá trị tại thời điểm ngày 29/7/2019 là 10.300.000 đồng;
- - 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9 màu tím có giá trị tại thời điểm ngày 29/7/2019 là 4.200.000 đồng;
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 210 màu đen có giá trị tại thời điểm ngày 29/7/2019 là 250.000 đồng
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu hồng có giá trị tại thời điểm ngày 29/7/2019 là 3.800.000 đồng.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số:50/2024/HS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã xử:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Phú T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Phú T 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Văn Phú T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/01/2024.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 15 tháng 6 năm 2024 bị cáo T có đơn kháng cáo yêu cầu xem xét lại các tình tiết để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: tại phiên toà phúc thẩm bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội; bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ mới. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại cấp sơ thẩm bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm. Các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm là hợp pháp.
[2] Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Phú T làm trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo:
[3.1] Về tội danh: tại phiên tòa, bị cáo T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ xác định: khoảng 00 giờ 50 phút ngày 29/7/2019, bị cáo T thuê xe taxi của anh L chở T và Q1 đi T; trên đường đi T rủ Q1 chiếm đoạt điện thoại của anh L nhưng Q1 không đồng ý; khi đến vòng xoay thị trấn T thì T kêu anh L rẽ phải, Q1 sợ T rủ cướp tài sản anh L nên kêu dừng xe trước nhà anh Lê Trọng Lâm T1 xuống xe đi vào trong hẻm; Trọng mượn điện thoại của anh L gọi cho Q1 vừa đi bộ qua nhà anh T1 thấy có 01 người thanh niên đang nằm ngủ cạnh 02 điện thoại di động và 01 xe mô tô nhưng không khóa cửa; T nảy sinh ý định chiến đoạt nhưng sợ anh L phát hiện. T quay ra trả điện thoại và kêu anh L tiếp tục chở đến cầu T thì dừng lại khoảng 05 phút thì kêu anh L chở quay lại trước nhà anh T1 để rước Q1. T mượn điện thoại của anh L vừa đi vừa giả vờ gọi điện thoại cho Q1, khi đến nhà anh T1, T lén lúc lấy 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9 màu tím, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 210 màu đen bỏ và 01 xe mô tô biển số 70K1- 426.85 bỏ chạy.
Như vậy, bị cáo T đã nói dối với anh L mượn điện thoại để điện cho Q1, sau khi lấy được điện thoại nhanh chóng lấy tài sản của anh T1 rồi bỏ chạy. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn Phú T đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xử hai tội “Cướp giật tài sản và Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 và khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3.2] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; lợi dụng sự mất cảnh giác của bị hại để chiếm đoạt tài sản; gây mất trật tự tại địa phương; nên cần xử lý theo pháp luật mới có tác dụng giáo dụng và phòng ngừa.
[3.3] Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tặng nặng.
[3.4] Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo tác động gia đình bồi thường xong cho anh L số tiền 3.800.000 đồng và bồi thường xong cho anh T1 số tiền 14.750.000 đồng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; anh L, anh T1 có đơn xin bãi nại cho bị cáo; đây là những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[3.5] Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đến tính chất, mức độ, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ nêu trên xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” là phù hợp, tương xứng với tính chất mức độ do bị cáo gây ra, không nặng. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ mới; cho nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp nên chấp nhận.
[4] Về án phí: do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5] Các quyết định của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Phú T.
- Giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số: 50/2024/HS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Phú T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Phú T 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Án phí phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Văn Phú T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Căn cứ vào Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt: buộc bị cáo Nguyễn Văn Phú T phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/01/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Tùng |
Bản án số 97/2024/HS-PT ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về hình sự phúc thẩm (cướp giật tài sản và trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 97/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cướp giật tài sản và Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
