Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN G

TỈNH A

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16-7-2024

“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH A

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Gi

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Minh C
  2. Ông Bạch Ngọc B

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Chánh N, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh A.

Trong ngày 16 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện G xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 296/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: ông Phan Hoàng L, sinh năm 1987; Cư trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh A. (có mặt)
  2. Bị đơn: bà Phùng Thị Ngọc T, sinh năm 1982; Cư trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh A. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nguyên đơn ông Phan Hoàng L và lời trình bày trong quá trình giải quyết, nội dung vụ án như sau: Sau khi tìm hiểu và quen biết, ngày 13/8/2008 ông và bà T có thực hiện đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 70, quyển số 01/2008 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh A cấp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh A. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến tháng 10 năm 2022 thì cả hai bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ không chăm sóc con cái, tiền lương vợ làm ra chỉ gửi về nhà gia đình vợ, không phụ ông đỡ đần kinh tế gia đình. Ông vay tiền để xây cầu, học bằng lái xe cũng một mình ông trả. Bà T nghi ngờ ông ngoại tình nên vợ chồng thường xuyên cải vã, đã nhiều lần giải quyết mâu thuẩn nhưng không kết quả. Đến tháng 02/2024 thì bà T dọn ra ở trọ bên ngoài. Còn ông và 02 con là T1 và A thì vẫn ở nhà vợ chồng. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên ông yêu cầu ly hôn với bà T.

Ông và bà T có 02 con chung tên Phan Thị Ngọc T2, sinh ngày 26/11/2008 và Phan Hoài Bình A1, sinh ngày 15/10/2011. Khi ly hôn ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung, nợ chung: Ông và bà T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Phùng Thị Ngọc T trình bày: bà thống nhất với lời trình bày của ông L về thời gian chung sống, thời gian kết hôn, về con chung, tài sản chung và nợ chung. Về nguyên nhân mâu thuẫn ông L trình bày thì bà không đồng ý. Vì bà có phụ ông L chăm sóc con cái, tiền bà làm ra bà vẫn phụ ông đỡ đần kinh tế gia đình, bà gửi tiền về cho gia đình bà là vì thời điểm đó con vẫn còn ở nhà ngoại. Khi ông L vay tiền để xây cầu, học bằng lái xe bà cũng phụ ông trả. Ông L ngoại tình ở ngoài về nhà đánh đập, chửi bà nên bà không sống chung nhà được với chồng nên mới ra ngoài thuê nhà trọ ở. Mặc dù ông L như vậy nhưng nay ông L nộp đơn yêu cầu ly hôn với bà thì bà không đồng ý vì bà còn thương chồng con.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung thống nhất với ý kiến của ông L.

Tòa án đã tiến hành hòa giải, nhưng các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: ông Phan Hoàng L khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Phùng Thị Ngọc T, hiện bà T đang cư trú tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh A nên Tòa án nhân dân huyện G thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: ông Phan Hoàng L kết hôn với bà Phùng Thị Ngọc T, thực hiện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh A cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 70, quyển số 01/2008 ngày 13/8/2008 nên xác định hôn nhân giữa ông L và bà T là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Ông L cho rằng cả hai mâu thuẫn trong việc chăm sóc con cái, kinh tế gia đình. Bà T nghi ngờ ông L ngoại tình nên vợ chồng thường xuyên cải vã, cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc.

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án tiến hành hòa giải đoàn tụ nhiều lần nhưng không kết quả. Bà T cho rằng ông L ngoại tình nhưng cũng không có chứng cứ chứng minh. Tại phiên tòa ông L cương quyết xin ly hôn, bà T không có phương án hiệu quả nào để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng. Qua đó, có đủ cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa ông L và bà T không còn, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử giải quyết cho ông L được ly hôn với bà T.

[3] Về con chung: ông L và bà T xác định vợ chồng có 02 con chung là Phan Thị Ngọc T2, sinh ngày 26/11/2008 và Phan Hoài Bình A1, sinh ngày 15/10/2011. Ông L yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T2 và cháu A1.

Xét thấy cả hai cháu đang sống với ông L ổn định, đồng thời cả hai cháu đều có nguyện vọng được tiếp tục ở cùng với cha là ông L, bà T đồng ý. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định cho cháu T2 và cháu A1 và theo nguyện vọng các cháu nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao 02 con chung tên Phan Thị Ngọc T2, sinh ngày 26/11/2008 và Phan Hoài Bình A1, sinh ngày 15/10/2011 cho ông L nuôi.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: ông L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: ông L và bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[6] Về án phí: ông L là người khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà T nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,

Điều 147, 227, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 9, Điều 56, 81, 82, 83, 84, 85 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức

thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Hoàng L về việc yêu cầu ly hôn với bà Phùng Thị Ngọc T.

[1] Về hôn nhân: ông Phan Hoàng L được ly hôn với bà Phùng Thị Ngọc T.

[2] Về con chung: Giao cho ông Phan Hoàng L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con chung là Phan Thị Ngọc T2, sinh ngày 26/11/2008 và Phan Hoài Bình A1, sinh ngày 15/10/2011.

Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

[3] Về án phí: ông Phan Hoàng L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông L đã nộp theo Biên lai thu số 0011488 ngày 08/5/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện G, tỉnh A chuyển sang án phí sung công quỹ nhà nước.

[4] Bản án sơ thẩm, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh A;
  • - VKSND huyện G;
  • - THADS huyện G;
  • - UBND xã L;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Gi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2024/HNGĐ-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH A về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 97/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH A
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của NĐ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger