Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2023/HS-ST

Ngày 15-8-2023

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tống Đăng Mạnh.

Ông Ninh Văn Trung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 90/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Thi Văn N, sinh năm 1988; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ học vấn: 3/12; Con ông Thi Văn H (đã chết) và bà Bùi Thị B, sinh năm 1963; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án:

- Tại bản án số 68/2011/HSST ngày 26/10/2011 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xử phạt Thi Văn N 09 (Chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 11/4/2012 N chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 23/5/2019 N được miễn thi hành án dân sự phần án phí.

- Tại bản án số 06/2013/HSST ngày 28/01/2013 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xử phạt Thi Văn N 02 (Hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 01/9/2014 N chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 23/5/2019 N được miễn thi hành án dân sự phần án phí.

- Tại bản án số 193/2018/HSST ngày 27/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Quế Võ (nay là thị xã Q), tỉnh Bắc Ninh xử phạt Thi Văn N 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. N chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/6/2019.

- Tại bản án số 148/2019/HSST ngày 29/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xử phạt Thi Văn N 16 (Mười sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. N chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/01/2021. N chưa thi hành bồi thường dân sự.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 13/4/2006, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang ra quyết định đưa Thi Văn N vào trường giáo dưỡng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Nam chấp hành xong quyết định ngày 01/02/2008.

Bị cáo bị bắt truy nã, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/5/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Anh Trần Văn K, sinh năm 1991. (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Bùi Thị B, sinh năm 1963. (Vắng mặt).
  2. Anh Thi Văn C, sinh năm 1995. (Vắng mặt).

Đều ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Người làm chứng:

  1. Anh Vương Văn B1, sinh năm 1986. (Vắng mặt).
  2. Anh Hoàng Văn V, sinh năm 1980. (Vắng mặt).
  3. Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1986. (Vắng mặt).
  4. Anh Hoàng Văn N1, sinh năm 1995. (Vắng mặt).
  5. Anh Hoàng Văn C1, sinh năm 1997. (Vắng mặt).
  6. Anh Lục Văn C2, sinh năm 1987. (Vắng mặt).

Đều ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng hơn 09 giờ ngày 26/6/2022, Thi Văn N, sinh năm 1988 và anh Vương Văn B1, sinh năm 1986, đều trú tại thôn Đ, xã B, huyện L đi đến quán của anh Hoàng Văn V, sinh năm 1980, trú tại thôn Đ, xã B, huyện L để uống bia. Khi đến quán thì ở quán có anh V (chủ quán) và các anh Hoàng Văn T, sinh năm 1986; anh Hoàng Văn N1, sinh năm 1995 và anh Hoàng Văn C1, sinh năm 1997 đều trú ở thôn Đ, xã B, huyện L; sau đó có thêm anh Trần Văn K, sinh năm 1991 và anh Lục Văn C2, sinh năm 1987 cùng trú tại thôn Đ, xã B, huyện L cũng đến quán uống bia. Do trước đó Thi Văn N có vay của anh Trần Văn K số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) nên trong quá trình uống bia anh K đã đòi N phải trả số tiền nêu trên thì giữa N và anh K xảy ra cãi vã. Sau đó, anh K đi đến đứng phía sau lưng N rồi túm áo N kéo dậy để lôi ra ngoài quán nhưng N không đứng dậy, anh K dùng chân phải đá một nhát trúng vào vùng sau gáy N. Khi bị anh K đánh, N liền dùng tay phải cầm lấy chiếc đĩa sứ hình tròn, đường kính khoảng 20cm dùng để đựng lạc ở trên bàn, đứng dậy xoay người lại rồi dùng đĩa sứ đập một nhát trúng vào vùng đầu bên trái của anh K. Anh K lấy chiếc điếu cày bằng ống tre dựng ở bàn gần đó, cầm bằng tay phải đập hai nhát trúng vào đầu N thì anh B1 can ngăn và giằng chiếc điếu cày cất đi. Hậu quả: Anh K bị thương chảy máu ở vùng đầu, được anh C2 và anh C1 đưa đi cấp cứu tại Trạm y tế xã B, huyện L, sau đó được chuyển đến Trung tâm Y tế huyện S, điều trị đến ngày 01/7/2022 được ra viện.

Ngày 13/7/2022, anh Trần Văn K có đơn trình báo Công an xã B, huyện L. Cùng ngày, Công an xã B đã tiến hành lập biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc tại quán của gia đình anh Hoàng Văn V, thu giữ: 08 mảnh đĩa sứ bị vỡ có vết màu đỏ nghi là máu do anh Hoàng Văn V giao nộp (được niêm phong trong phong bì ký hiệu “P1”) và 01 điếu cày bằng ống tre có kích thước 65x 4,7cm.

Ngày 18/7/2022, Công an xã B đã chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Biên bản làm việc với Trạm y tế xã Biển Động xác định thương tích ban đầu của anh Trần Văn K: có 02 vết thương tại vùng thái dương trái và vùng chẩm trái.

Tại Giấy chứng nhận thương tích ngày 01/7/2022 của Trung tâm Y tế huyện S xác định anh Trần Văn K vào viện hồi 10 giờ 51 phút ngày 26/6/2022, ra viện hồi 15 giờ 30 phút ngày 01/7/2022. Tình trạng thương tích lúc vào viện: Người bệnh tỉnh táo, không sốt, da niêm mạc hồng. Vùng thái dương bên trái có vết thương chạy dọc từ trên xuống dưới đang chảy máu, kích thước ~ 10cm x 3,5cm x 2cm, bờ vết sắc gọn, vùng chẩm trái có vết thương đang chảy máu kích thước ~ 03cm x 01cm x 01cm bờ sắc gọn. Tim nhịp đều T1, T2 rõ. Phổi thông khí tốt. Các chỉ số sinh tồn ổn định.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 901/22/TgT ngày 26/8/2022 của Trung tâm Pháp y Bệnh viện Đa khoa tỉnh B kết luận đối với thương tích của anh Trần Văn K như sau:

“- Thương tích vết sẹo vùng thái dương trái kích thước trung bình: 02%.

- Thương tích vết sẹo vùng đỉnh chẩm trái kích thước nhỏ: 01%.

- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 03%.

- Cơ chế, vật gây thương tích: Các thương tích do vật tày gây nên, không xác định được chiều hướng.

- Dùng “tay không” đánh không gây được thương tích như trên cho anh Trần Văn K."

Ngày 01/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành thực nghiệm điều tra theo lời khai của bị hại là anh Trần Văn K và người làm chứng là anh Lục Văn C2.

Ngày 09/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung đối với thương tích của anh Trần Văn K. Tại bản Kết luận giám định số 1067/22/TgT ngày 17/11/2022 của Trung tâm Pháp y Bệnh viện Đa khoa tỉnh B kết luận: “Dựa vào hồ sơ, tài liệu, biên bản thực nghiệm điều tra, bản ảnh thực nghiệm điều tra, vật gửi giám định kết luận:

- 08 mảnh vỡ từ đĩa sứ, nếu đĩa chưa vỡ thì có thể gây ra thương tích cho anh Trần Văn K

- Cơ chế, chiều hướng hình thành vết thương trên cơ thể anh Trần Văn K: Cơ chế các thương tích do vật tày gây nên. Chiều hướng gây nên các thương tích từ trên xuống dưới, từ trái sang phải.

- Theo tình huống thực nghiệm điều tra theo lời khai của anh Trần Văn K và Lục Văn C2 thì Thi Văn N dùng đĩa sứ hình tròn gây được các vết thương trên cơ thể anh Trần Văn K."

Tại văn bản số 47/BVĐK-TTPY ngày 25/7/2023 của Trung tâm Pháp y Bệnh viện Đa khoa tỉnh B về việc giải thích kết luận giám định xác định: chiếc đĩa sứ là vật tày có cạnh, khi đập chiếc đĩa sứ vẫn lành, sau khi tác động vào vùng đầu đĩa vỡ, cạnh đĩa và các mảnh vỡ gây nên các thương tích vùng thái dương trái và vùng chẩm trái có bờ mép sắc gọn. Do vậy vật tác động ban đầu để gây ra các thương tích trên là chiếc đĩa sứ lành là vật tày có cạnh. Vật tày có cạnh và vật tày khi tác động bị vỡ, các mảnh vỡ gây được các thương tích bờ mép sắc gọn. Nếu sử dụng chiếc đĩa sứ đập và khi đập chiếc đĩa sứ bị vỡ gây được thương tích bờ mép sắc gọn.

Sau khi phạm tội, Thi Văn N đã bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 31/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra quyết định truy nã đối với Thi Văn N. Ngày 08/5/2023, N bị bắt theo quyết định truy nã, quá trình bắt giữ N thu giữ 01 căn cước công dân mang tên Thi Văn N.

Đối với anh Trần Văn K có hành vi dùng chân đá và dùng điếu cày đánh vào vùng đầu Thi Văn N, quá trình điều tra N khai chỉ bị thương tích nhẹ, không đi điều trị tại cơ sở y tế nào và không yêu cầu, đề nghị gì. Hành vi của anh Trần Văn K không đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134- Bộ luật Hình sự. Ngày 20/6/2023, Công an huyện L đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Văn K về hành vi “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 13/7/2023, gia đình Thi Văn N đã tự nguyện bồi thường cho anh Trần Văn K số tiền 10.000.000 đồng. Anh K đã nhận số tiền trên và không có yêu cầu bồi thường gì khác, đồng thời có đơn xin rút đơn và miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Thi Văn N.

Về vật chứng: 08 mảnh đĩa sứ bị vỡ (được niêm phong), 01 điếu cày bằng ống tre có kích thước 65x 4,7cm và 01 căn cước công dân số [...] mang tên Thi Văn N được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn để xử lý theo quy định.

Từ những nội dung trên, bản Cáo trạng số 95/CT-VKS ngày 27 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Thi Văn N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 2 Điều 134- Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Thi Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Kết luận điều tra và Cáo trạng truy tố.

- Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai của người bị hại, người liên quan, người làm chứng.

- Chủ tọa phiên tòa công bố Giấy chứng nhận thương tích và kết luận giám định.

Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm d, khoản 2, Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2, Điều 51; Điều 38- Bộ luật Hình sự. Xử phạt Thi Văn N từ 02 (Hai) năm tù đến 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (từ ngày 08-5-2023).
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47- Bộ luật Hình sự; Điều 106- Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • Tịch thu tiêu hủy: 08 mảnh đĩa sứ bị vỡ (được niêm phong), 01 điếu cày bằng ống tre có kích thước 65x4,7cm.
    • Trả lại bị cáo Thi Văn N: 01 căn cước công dân số [...] mang tên Thi Văn N.
  3. Về án phí: Buộc bị cáo Thi Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, đối đáp với quan điểm của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai thể hiện quan điểm của họ và sự vắng mặt của họ không gây ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292, Điều 293-Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại, người làm chứng.

[3] Về những chứng cứ xác định bị cáo có tội: Tại phiên tòa, bị cáo Thi Văn N khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận giám định cùng tang vật chứng thu được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng hơn 09 giờ ngày 26/6/2022, tại quán bán bia của gia đình anh Hoàng Văn V ở thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang, do có mâu thuẫn trong việc vay nợ, giữa Thi Văn N và anh Trần Văn K đã xảy ra cãi vã, xô xát với nhau. Trong quá trình xảy ra xô xát, N đã dùng 01 đĩa sứ hình tròn, đường kính khoảng 20cm (là hung khí nguy hiểm) đập 01 nhát vào vùng đầu của anh Trần Văn K, gây thương tích cho anh K 03% sức khoẻ.

[4] Về áp dụng pháp luật hình sự đối với bị cáo: Tại bản án số 148/2019/HSST ngày 29/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự (tái phạm) xử phạt Thi Văn N 16 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. N chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/01/2021, chưa được xóa án tích tiếp tục gây thương tích cho anh K 3%. Do vậy hành vi gây thương tích nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d, khoản 2, Điều 134- Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn và bản Luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã truy tố bị cáo Thi Văn N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d, khoản 2, Điều 134- Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

[6] Xét về tính chất vụ án, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, làm mất trật tự trị an ở địa phương. Do đó cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm giáo dục riêng, cũng như để đấu tranh phòng ngừa đối với loại tội phạm này nói chung.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị Tòa án xét xử về các tội xâm phạm quyền sở hữu về tài sản, đã bị Chủ tịch UBND huyện L đưa vào trường giáo dưỡng nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại. Bị hại có một phần lỗi và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51- Bộ luật Hình sự. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là có căn cứ, cần chấp nhận.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Qua đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng Điều 38- Bộ luật Hình sự bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng chống loại tội phạm này nói chung. Mức hình phạt tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên cần được chấp nhận.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng. Bị hại đã nhận đủ tiền, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[9] Về xử lý vật chứng: Đối với 08 mảnh đĩa sứ bị vỡ (được niêm phong), 01 điếu cày bằng ống tre có kích thước 65x4,7cm là những vật chứng không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 căn cước công dân số [...] mang tên Thi Văn N không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo.

[10] Về các vấn đề khác: Đối với anh Trần Văn K có hành vi dùng chân đá và dùng điếu cày đánh vào vùng đầu Thi Văn N, quá trình điều tra N khai chỉ bị thương tích nhẹ, không đi điều trị tại cơ sở y tế nào và không yêu cầu, đề nghị gì. Hành vi của anh Trần Văn K không đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134- Bộ luật Hình sự. Ngày 20/6/2023, Công an huyện L đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Văn K về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” số tiền 6.500.000 đồng theo quy định tại điểm a, khoản 5, Điều 7- Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ, Hội đồng xét xử thấy là có căn cứ.

[11] Về án phí: Bị cáo Thi Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47- Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333- Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:

  1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Thi Văn N 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 08-5-2023).
  2. Về vật chứng:
    • Tịch thu tiêu hủy: 08 mảnh đĩa sứ bị vỡ (được niêm phong), 01 điếu cày bằng ống tre có kích thước 65x 4,7cm.
    • Trả lại bị cáo Thi Văn N: 01 căn cước công dân số [...] mang tên Thi Văn N.
  3. Về án phí: Buộc bị cáo Thi Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Công an huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Văn Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2023/HS-ST ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 97/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng hơn 09 giờ ngày 26/6/2022, tại quán bán bia của gia đình anh Hoàng Văn V ở thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang, do có mâu thuẫn trong việc vay nợ, giữa Thi Văn N và anh Trần Văn K đã xảy ra cãi vã, xô xát với nhau. Trong quá trình xảy ra xô xát, N đã dùng 01 đĩa sứ hình tròn, đường kính khoảng 20cm (là hung khí nguy hiểm) đập 01 nhát vào vùng đầu của anh Trần Văn K, gây thương tích cho anh K 03% sức khoẻ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger