Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 97/2024/HS-ST

Ngày: 14/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Bắc
  • Thẩm phán: Ông Phạm Trung Dũng
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Cang
  • Ông Trần Văn Việt
  • Bà Đỗ Thị Lài

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 90/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 7 năm 2024, đối với:

Bị cáo: Nguyễn Thị Hoài T, sinh năm 1998 tại Thanh Hóa; Thường trú: thôn T, xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Trung T1 (sinh năm 1966) và bà Nguyễn Thị K (sinh năm 1967); chưa có chồng, con; Tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt ngày 20/12/2023, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)

  • * Người bào chữa: Luật sư Phạm Văn N – Đoàn Luật sư tỉnh B. (có mặt)

  • * Bị hại: Bà Nguyễn Thị Phước L, sinh năm 1990. Địa chỉ: C T, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt, đơn xin xét xử vắng mặt)

  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Bà Nguyễn Thị Minh C, sinh năm 1978. Địa chỉ: số A, Khu phố N, phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)

    2. Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1966. Địa chỉ: ấp P, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)

    3. Ông Nguyễn Sơn H, sinh năm 1986. Địa chỉ: C T, phường P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)

    4. Ông Lý Hoàng S, sinh năm 1983. Địa chỉ: ấp M, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)

    5. Bà Đinh Hồng Đ, sinh năm 1985. Địa chỉ: F Đ, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo hồ sơ vụ án và theo diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1.1. Nội dung vụ án và kết quả điều tra:

Do cần tiền nên Nguyễn Thị Hoài T sử dụng phương thức vay tiền với lãi suất cao để tiêu xài rồi vay tiền của người khác với mức lãi suất cao hơn để trả nợ cho người cho vay trước. Đến khi mất khả năng thanh khoản thì T dùng thủ đoạn gian dối thuê 02 đối tượng (không rõ lai lịch) trên mạng xã hội Facebook làm giả hình ảnh các Thông báo số dư tài khoản ngân hàng, Hợp đồng ủy quyền mua bán đất, Giấy ủy quyền giao dịch ngân hàng.... chứa đựng thông tin xác định T là người có rất nhiều tiền, hoặc đang tham gia các giao dịch rất nhiều tiền rồi sử dụng các hình ảnh giả mạo để lừa dối vay tiền, hứa hẹn trả lãi suất cao làm cho người cho vay sau tin tưởng là thật nên giao tiền cho T vay mà không biết thực chất đã bị T lừa dối chiếm đoạt.

Với thủ đoạn gian dối nêu trên, quá trình điều tra xác định, trong năm 2022, T nhiều lần vay - trả - vay của nhiều người, trong đó có bà Nguyễn Thị Minh C (sinh năm 1978; trú tại số A, Khu phố N, phường K, thành phố B) tổng số tiền lên đến 5,8 tỷ đồng. Đến khi mất khả năng trả nợ gốc, lãi cho bà C thì T đã dùng thủ đoạn gian dối cung cấp ảnh chụp các Thông báo số dư tài khoản ngân hàng, Hợp đồng ủy quyền mua bán đất, Giấy ủy quyền giao dịch ngân hàng.... chứa đựng các thông tin giả mạo nêu trên để nhiều lần lừa dối vay bà Nguyễn Thị Phước L (sinh năm 1990; trú tại C T, phường P, thành phố B) hứa hẹn trả lãi suất cao lên đến 10%/tháng. Tin tưởng là thật nên bà L đã cho T vay tiền mà không biết thực chất đã bị T lừa dối chiếm đoạt.

Cụ thể:

  • Lần 1: Ngày 12/8/2022, với thủ đoạn gian dối nêu trên, T vay bà L 100 triệu đồng, nhận tiền qua tài khoản V số [...], lãi suất 5%/tháng, không xác định thời hạn vay. Để củng cố niềm tin, T nhiều lần trả lãi hàng tháng cho bà L với tổng số tiền là 32 triệu đồng.

  • Lần 2: Ngày 07/10/2022, với thủ đoạn gian dối nêu trên, T vay bà L 72 triệu đồng qua tài khoản, lãi suất 10%/tháng, thời hạn 01 tháng, nguồn gốc tiền do bà L vay của người tên T2 rồi chuyển vào tài khoản của T. Để củng cố niềm tin, T trả lãi cho bà L 5 triệu đồng vào ngày 11/11/2022.

  • Lần 3: Ngày 20/10/2022, với thủ đoạn gian dối nêu trên, T vay bà L 100 triệu đồng qua tài khoản, lãi suất 8%/tháng, không xác định thời hạn. Để củng cố niềm tin, T trả lãi cho bà L 16 triệu đồng.

  • Lần 4: Ngày 21/10/2022, với thủ đoạn gian dối nêu trên, T vay bà L 50 triệu đồng qua tài khoản, lãi suất 5%/tháng, không xác định thời hạn. Để củng cố niềm tin, T trả lãi cho bà L 2,5 triệu đồng vào ngày 27/12/2022.

  • Lần 5: Ngày 23/10/2022, với thủ đoạn gian dối nêu trên, T vay bà L 100 triệu đồng qua tài khoản, lãi suất 5%/tháng, thời hạn 01 tháng. Để củng cố niềm tin, T trả lãi cho bà L 15 triệu đồng.

  • Lần 6: Ngày 17/11/2022, với thủ đoạn gian dối nêu trên, T vay bà L 200 triệu đồng không lãi suất và chỉ dẫn chuyển tiền vào tài khoản M số 0775555972 mang tên Nguyễn Sơn H, thời hạn trả cuối tháng 12/2022.

  • Lần 7: Ngày 21/11/2022, với thủ đoạn nêu trên, T vay bà L 50 triệu đồng qua tài khoản, lãi suất 05%/tháng, không xác định thời hạn. Để củng cố niềm tin, T có trả lãi nhưng cả bà L và T đều không nhớ số liệu.

  • Lần 8: Ngày 14/12/2022, với thủ đoạn gian dối nêu trên, T vay bà L 10 triệu đồng, không lãi suất, không xác định thời hạn trả.

  • Lần 9: Ngày 25/12/2022, với thủ đoạn gian dối nêu trên, T vay bà L 250 triệu đồng, không lãi suất, thời gian 1 tuần.

  • Lần 10: Ngày 31/12/2022, với thủ đoạn gian dối nêu trên, T vay bà L 100 triệu đồng, lãi suất 5%/tháng. Để củng cố niềm tin, T có trả lãi cho bà L nhưng cả hai không nhớ chính xác, chỉ nhớ khoảng 22 triệu đồng.

Đến tháng 3/2023, T bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm; ngày 01/5/2023, T đến Cơ quan điều tra trình diện. Cơ quan cảnh sát điều tra (PC02) Công an tỉnh đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tạm giam đối với T để điều tra về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, T khai báo hành vi, thủ đoạn gian dối của bản thân, diễn biến sự việc như đã nêu trên và công nhận kết quả điều tra. Lời khai của bị can phù hợp với lời khai bị hại và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

1.2. Phần dân sự:

  • Bà Nguyễn Thị Phước L yêu cầu bị cáo bồi thường 2,382 tỷ đồng. Bị cáo đã bồi thường 140 triệu đồng.

  • Bà Nguyễn Thị Minh C yêu cầu bị cáo trả lại 5,8 tỷ đồng. Bị cáo chưa bồi thường.

1.3. Các vấn đề liên quan:

  • Đối với hành vi T thuê đối tượng (không rõ lai lịch) làm giả hình ảnh chụp các Thông báo số dư tài khoản ngân hàng, Hợp đồng ủy quyền mua bán đất, Giấy ủy quyền giao dịch ngân hàng.... có thông tin xác định T là người có rất nhiều tiền, hoặc T đang tham gia các giao dịch khác với rất nhiều tiền rồi sử dụng các hình ảnh giả nói trên lừa dối chiếm đoạt tiền của bà L. Do các hình ảnh là kỹ thuật số, không phải là con dấu vật lý hay tài liệu bản giấy nên không đủ cơ sở xử lý hình sự đối với T về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại Điều 341 Bộ luật Hình sự.

  • Vào các ngày 09, 14/12/2022, bà L cho T vay 1,35 tỷ đồng từ 1,5 tỷ đồng bà L vay vốn tại ngân hàng M1: là giao dịch không có yếu tố gian dối nên không xử lý hình sự đối với T về số tiền này trong vụ án.

  • Đối với Nguyễn Thị Phước L, Nguyễn Thị Minh C cho bị cáo T vay tiền lãi suất 8-10%/tháng, vượt mức cao nhất theo Bộ luật Dân sự quy định. Tuy nhiên L, Chi thu lợi bất chính dưới 30 triệu đồng, không biết tiền T trả do phạm tội mà có không đủ cơ sở xử lý hình sự Nguyễn Thị Phước L, Nguyễn Thị Minh C về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” hay “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, quy định tại các Điều 201, 323 Bộ luật Hình sự.

  • Quá trình điều tra xác định được, cùng với việc gửi các hình ảnh, tài liệu giả cho bà L như trên, T cũng gửi cho bà C các hình ảnh này, đồng thời lập một tài khoản Facebook rồi tự nhắn tin với nội dung là bà C chỉ định chuyển 02 tỷ trả nợ vào tài khoản ACB số [...] tên Doan H. Sau đó, T thông báo cho bà C biết đã chuyển tiền. Bà C không nhận được tiền, liên hệ với T thì T cho rằng tài khoản của bà C đã bị người khác chiếm quyền (“hack”). Tuy nhiên, hành vi này của T chỉ nhằm trì hoãn việc trả nợ chứ không có ý thức chiếm đoạt tài sản của bà C, nên chưa đủ cơ sở xử lý hình sự về tội “Lạm dung tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự.

2. Tại Cáo trạng số 90/CT-VKS-P2 ngày 03 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hoài T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

3. Tại phiên tòa, trong bản luận tội vị đại diện Viện Kiểm sát đã nêu các tình tiết vụ án, tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Nguyễn Thị Hoài T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; đề nghị áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, các điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 13 (Mười ba) - 15 (Mười lăm) năm tù; giải quyết trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

4. Tranh luận và đối đáp tại phiên toà:

4.1. Luật sư Phạm Văn N bào chữa cho bị cáo như sau:

Nhất trí với tội danh, Điều khoản, quan điểm truy tố của Viện Kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử lưu tâm xem xét, áp dụng bổ sung các tình tiết giảm nhẹ: bị cáo không biết việc Công an truy tìm, khi biết tin đã đến Công an trình diện nên được coi là tự thú theo điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự hoặc tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án thấp dưới mức án đại diện Viện Kiểm sát đề nghị, cho bị cáo cơ hội sớm được trở về với gia đình, làm công dân tốt có ích cho xã hội.

4.2. Bị cáo Nguyễn Thị Hoài T nhất trí với bào chữa của Luật sư, không tranh luận và bào chữa bổ sung.

4.3. Đại diện Viện Kiểm sát đối đáp, không đồng ý áp dụng tình tiết giảm nhẹ “tự thú” như Luật sư đề nghị vì không có căn cứ; giữ nguyên quan điểm và đề nghị.

4. Bị cáo Nguyễn Thị Hoài T nói lời nói sau cùng, thể hiện thái độ ăn năn hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sớm trở về làm công dân tốt có ích cho xã hội, chăm sóc gia đình và người thân.

5. Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Về tố tụng:

Hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:

Do cần tiền nên Nguyễn Thị Hoài T vay tiền lãi suất cao để tiêu xài, rồi vay tiền của người khác với mức lãi suất cao hơn để trả nợ cho người cho vay trước. Đến khi mất khả năng thanh khoản, bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác, nên dùng thủ đoạn gian dối thuê 02 đối tượng (không rõ lai lịch) trên mạng xã hội Facebook làm giả hình ảnh các Thông báo số dư tài khoản ngân hàng, Hợp đồng ủy quyền mua bán đất, Giấy ủy quyền giao dịch ngân hàng.... chứa đựng thông tin thể hiện mình là người có rất nhiều tiền, đang tham gia các giao dịch rất nhiều tiền; rồi sử dụng các hình ảnh giả mạo làm cho người khác tưởng giả là thật, giao tiền cho bị cáo dưới hình thức vay tiền trả lãi suất cao theo yêu cầu của bị cáo, và bị bị cáo chiếm đoạt. Với thủ đoạn gian dối này, từ ngày 12/8/2022 đến ngày 31/12/2022, bị cáo đã 10 lần lừa dối chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị Phước L 1.032.000.000 đồng.

Như vậy, có đủ căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Thị Hoài T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự, đúng như truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, bất bình, hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người đã trưởng thành không tu chí làm ăn mà đã dùng thủ đoạn gian dối khiến người khác tưởng giả là thật, thực hiện ý định nhiều lần liên tiếp chiếm đoạt tài sản lớn của bị hại. Vì vậy, phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện, để đảm bảo tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung, đồng thời nêu cao tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội với tình tiết tăng nặng: “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, đã bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại, quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về xử lý vật chứng: Không.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Nguyễn Thị Phước L vắng mặt tại phiên toà, yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường 2.382.000.000 đồng. Bà Nguyễn Thị Minh C yêu cầu bị cáo trả lại 5.800.000.000 đồng.

Trong vụ án xác định bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối, lừa đảo chiếm đoạt của bị hại 1.032.000.000 đồng, đã bồi thường 140.000.000 đồng. Vì vậy, bị cáo có trách nhiệm tiếp tục bồi thường cho bị hại 892.000.000 đồng.

Các khoản còn lại là giao dịch dân sự, không có yếu tố chiếm đoạt. Các bà Nguyễn Thị Phước L, Nguyễn Thị Minh C có quyền yêu cầu bị cáo hoàn trả bằng việc khởi kiện vụ án để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.

[7] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Hoài T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hoài T 13 (Mười ba) năm tù, tính từ ngày 20/12/2023.

2. Trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự; buộc bị cáo Nguyễn Thị Hoài T tiếp tục bồi thường cho bà Nguyễn Thị Phước L số tiền 892.000.000 đồng (T3 trăm chín mươi hai triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Án phí sơ thẩm:

Bị cáo Nguyễn Thị Hoài T nộp 44.800.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu tám trăm nghìn đồng), gồm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 44.600.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

4. Quyền kháng cáo:

Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (14/8/2024), bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP.HCM;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh BR-VT;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh BR-VT;
  • - Công an tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh BR-VT;
  • - THAHS tỉnh BR-VT;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu (3): Văn phòng, Tòa Hình sự, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Bắc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 97/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hoài T Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger