TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 97/2024/HS-ST Ngày 12-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nông Biên Hòa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đàm Văn Sự
Bà Nông Thị Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Thế Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nguyệt, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 62/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 05 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 360/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 06 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 399/2024/HSST-QĐ ngày 26/6/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H (tên gọi khác: Không); sinh ngày 07 tháng 08 năm 1978 tại N, V, Hưng Yên.
Nơi ĐKHTT: Đội 12, thôn H, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Nơi ở hiện tại: Tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ (Đã chết) và bà Dương Thị H1 (Đã chết); có vợ là Lê Thị V, sinh năm 1976, có 01 con sinh năm 2000; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 13/8/2020, bị Công an thành phố C xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc.
Bị cáo hiện đang được tại ngoại tại nơi cư trú. (Có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1990; Trú tại: Tổ H, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Bà Hoàng Thị Thùy L, sinh năm 1994; Trú tại: Tổ A, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Bà Phạm Thị C, sinh năm 1980; Trú tại: Tổ D, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1988; Trú tại: Tổ dân phố H, thị trấn Q, Q, Cao Bằng; vắng mặt.
- Ông Đàm Quốc K, sinh năm 1990, trú tại tổ H, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 5 năm 2022, Nguyễn Văn H (sinh năm: 1978, trú tại: đội A thôn H, huyện V, tỉnh Hưng Yên; tạm trú: tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) thường xuyên lái xe dịch vụ chở khách, có mối quan hệ với nhiều người và đã thực hiện cho vay tiền với lãi suất cho vay từ 4.500đ đến 13.636₫/1.000.000đ/ngày, người vay chủ yếu là những người sinh sống ở địa bàn thành phố C và các huyện lân cận. Khi người vay có nhu cầu vay tiền sẽ gọi điện thoại cho H và đến nhà trọ của H ở gần khu vực nhà thờ T2, thuộc tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng để thỏa thuận và làm hợp đồng vay tiền, sau đó H giữ hợp đồng này. Ngoài ra có trường hợp như Hoàng Thị Thùy L (sinh năm 1994, trú tại: tổ A, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng) là do không thân quen với H nên khi vay tiền phải thế chấp xe máy để đảm bảo. Việc cho vay tiền, thu tiền lãi, gốc được thực hiện bằng tiền mặt hoặc thông qua chuyển khoản ngân hàng. H sử dụng các số tài khoản 8314282862828, 8300205032101 mang tên Nguyễn Văn H thuộc Ngân hàng A, tài khoản 3300375280 mang tên Nguyễn Văn H thuộc Ngân hàng B1.
Quá trình điều tra, tài liệu thu thập được khi khám xét, bị cáo Nguyễn Văn H và những người vay tiền đều thừa nhận, về từng khoản vay, phù hợp với tài liệu sao kê lịch sử giao dịch ngân hàng, tin nhắn, nội dung trao đổi của những người liên quan, cụ thể:
1. Ngày 25/9/2023, Hoàng Thị Thùy L (sinh năm 1994, T tại: Tổ A thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng): sử dụng số điện thoại 0943.646.xxx của L liên lạc với H qua số điện thoại 0359.800.xxx để hỏi vay tiền. Cùng ngày H có hẹn L đến nhà trọ của H tại tổ A, phường S, Tp ., tỉnh Cao Bằng để thoả thuận, sau khi thỏa thuận và thống nhất, L vay H 20.000.000₫ (hai mươi triệu đồng), lãi suất 5000đ/1.000.000đ/ngày, thời hạn trả là 01 tháng. L phải trả cho H 23.000.000₫ cả gốc và lãi, do không quen biết nên H yêu cầu phải thế chấp tài sản, L đã đặt lại 01 xe máy nhãn hiệu HONDA VISION màu đen (chưa có biển kiểm soát) để làm tài sản đảm bảo cho H giữ. Khoảng một tháng sau H có liên lạc với L để đòi nợ nhưng không được nên H đã tính lãi cho L 3.000.000đ/tháng. Ngày 23/12/2023 L có nhắn tin cho H “a tính cho e cả lãi cả gốc là bao nhiêu tiền. để e gom tiền chiều mai e lấy xe", H trả lời “ Cả gốc và lãi là 29tr", L nhắn lại “ lãi 9tr rồi ạ. giờ e mới có 24tr e gom thêm chiều mai e lên lấy", H trả lời "Ok". Tổng số tiền L nợ Hoạt 29.000.000đ, trong đó 9.000.000đ tiền lãi của 03 tháng, 20.000.000đ tiền gốc. Ngày 02/01/2024, L chuyển khoản cho H 9.000.000đ tiền lãi 03 tháng qua tài khoản BIDV số 3300375280 mang tên Nguyễn Văn H, L còn nợ H 20.000.000đ tiền gốc.
2. Phạm Thị C (sinh năm 1980, trú tại: tổ D, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng): Hoạt cho C vay tiền 06 lần bằng hình thức “bát họ", không làm hợp đồng và thế chấp tài sản, giấy tờ gì. Khi vay tiền thì H đưa tiền mặt cho C, còn C trả tiền thông qua chuyển khoản vào số tài khoản AGRIBANK số A và tài khoản BIDV số C1 đều mang tên Nguyễn Văn H. Cụ thể các lần cho vay:
- - Lần thứ nhất, ngày 24/5/2022 C vay “bát họ" 5.000.000đ thời hạn trả 20 ngày, tương đương 250.000đ/ngày, 4 ngày trả tiền 1 lần, khi vay C được nhận 3.500.000đ tiền mặt còn 1.500.000₫ Hoạt giữ lại là tiền lãi của khoản vay, C phải trả đủ cho H 5.000.000đ. Đến ngày 14/6/2022 C trả đủ 5.000.000đ.
- - Lần thứ hai, ngày 16/6/2022 C vay "bát họ" 10.000.000đ thỏa thuận thời hạn trả 40 ngày, tương đương 250.000đ/ngày, 4 ngày trả tiền 1 lần, thực tế C nhận được 7.000.000đ tiền mặt còn 3.000.000đ Hoạt giữ lại là tiền lãi của khoản vay, C phải trả đủ cho H 10.000.000đ. Đến ngày 22/7/2022, C trả đủ 10.000.000₫.
- - Lần thứ ba, ngày 17/7/2022, C vay "bát họ" 10.000.000đ thỏa thuận như lần 2, H đưa tiền mặt cho C 7.000.000đ. Đến ngày 29/8/2022 C trả đủ 10.000.000₫.
- - Lần thứ tư, ngày 04/9/2022, C vay "bát họ" 10.000.000đ thỏa thuận như lần 2, H đưa tiền mặt cho C 7.000.000đ. Đến ngày 22/10/2022 C trà đủ 10.000.000đ.
- - Lần thứ năm, ngày 26/10/2022, C vay "bát họ" 10.000.000₫ thỏa thuận như lần 2, H đưa tiền mặt cho C 7.000.000đ. Đến ngày 09/12/2022 C trả đủ 10.000.000đ.
- - Lần thứ sáu, ngày 09/12/2022, C vay "bát họ" 10.000.000đ thỏa thuận như lần 2, H đưa tiền mặt cho C 7.000.000đ. Đến ngày 21/01/2023, C trả đủ 10.000.000₫.
3. Nguyễn Thị Thùy D (sinh năm 1990, trú tại: Tổ H, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng): H cho D vay tiền 05 lần bằng hình thức "bát họ”. Khi vay tiền thì H chuyển khoản hoặc đưa tiền mặt cho D, còn D trả tiền thông qua chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng V1 số: [...] và ngân hàng B1 số: 3300345539 của D vào tài khoản A số 8314282862828 của Nguyễn Văn H. Cụ thể các lần cho vay:
- - Lần thứ nhất, ngày 04/7/2023 D vay “bát họ" 10.000.000đ thỏa thuận thời hạn trả 40 ngày, tương đương 250.000đ/ngày, 4 ngày trả tiền 1 lần, thực tế D nhận được 7.000.000đ tiền mặt còn 3.000.000₫ Hoạt giữ lại là tiền lãi của khoản vay, D phải trả đủ cho H 10.000.000đ. Đến ngày 17/8/2023, D trả đủ 10.000.000₫.
- - Lần thứ hai, ngày 17/8/2023, D vay số tiền 10.000.000đ thỏa thuận như lần 1, H đưa cho D 7.000.000đ. Đến ngày 21/9/2023, D trả đủ 10.000.000₫.
- - Lần thứ ba, ngày 21/9/2023, D vay số tiền 10.000.000đ thỏa thuận như lần 1, H đưa cho D 7.000.000đ. Đến ngày 28/10/2023 D trả dù 10.000.000đ.
- - Lần thứ tư, ngày 28/10/2023, D vay số tiền 10.000.000đ thỏa thuận như lần 1, H đưa cho D 7.000.000đ. Đến ngày 09/12/2023 D trả đủ 10.000.000đ.
- - Lần thứ năm, ngày 09/12/2023, D vay số tiền 10.000.000đ thỏa thuận như lần 1, H đưa cho D 7.000.000đ. Đến ngày 30/12/2023, D trả Hoạt 4.000.000đ, còn nợ 6.000.000₫.
4. Nguyễn Thị Thu H2 (sinh năm: 1988, trú tại: TDP H, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Cao Bằng): Ngày 09/07/2023, H có nhận được cuộc gọi từ số điện thoại giới thiệu tên là H2 và muốn vay tiền với H. Hoạt có hẹn H2 đến nhà trọ của hoạt tại tổ A, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng để thỏa thuận. Sau đó H có thỏa thuận với H2 về việc vay tiền và cùng thống nhất. Hoạt cho H2 vay 10.000.000đ (Mười triệu đồng), H2 phải trả tiền cho H trong thời hạn 01 tháng, số tiền 12.000.000đ, trong đó 10.000.000đ là tiền gốc, 2.000.0000đ là tiền lãi. Ngày 17/7/2023, H2 trả cho H 1.000.000đ, ngày 18/7/2023 H2 trả cho H 1.000.000đ, ngày 10/9/2023 H2 trả cho H 10.000.000đ, kết thúc khoản vay.
Đối với các khoản vay trên H đã thu tiền lãi của các cá nhân như sau:
+ Hoàng Thị Thùy L đã trả cho H là 9.000.000đ (chín triệu đồng), tiền lãi được phép thu theo quy định của pháp luật là 1.096.000đ (một triệu không trăm chín mươi sáu nghìn đồng), số tiền thu lợi bất chính của H là 7.904.000đ (bảy triệu chín trăm linh tư nghìn đồng). Lãi suất thực tế trong trường hợp này là từ 4.500đ/1.000.000đ/ngày, tương đương 164,3%/năm, gấp 8,2 lần lãi suất cho phép quy định tại Bộ luật Dân sự.
+ Phạm Thị C đã trả cho H là 16.500.000đ (mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng), tiền lãi được phép thu theo quy định của pháp luật là 1.260.000đ (một triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng), số tiền thu lợi bất chính của H là 15.240.000đ (mười năm triệu hai trăm bốn mươi nghìn đồng). Lãi suất thực tế trong trường hợp này là từ 6.122đ đến 13.636đ/1.000.000đ/ngày, tương đương 223,5% đến 497,7%/năm, gấp 11,2 lần đến 24,9 lần lãi suất cho phép quy định tại Bộ luật Dân sự.
+ Nguyễn Thị Thùy D đã trả cho H là 15.000.000đ (mười năm triệu đồng), tiền lãi được phép thu theo quy định của pháp luật là 1.107.000đ (một triệu một trăm linh bảy nghìn đồng), số tiền thu lợi bất chính của H là 13.893.000đ (mười ba triệu tám trăm chín mươi ba nghìn đồng). Lãi suất thực tế trong trường hợp này là từ 6.667đ đến 8.333₫/1.000.000đ/ngày, tương đương 243,3% đến 304,2%/năm, gấp 12,2 lần đến 15,2 lần lãi suất cho phép quy định tại Bộ luật Dân sự.
+ Nguyễn Thị Thu H2 đã trả cho H là 2.000.000đ (hai triệu đồng), tiền lãi được phép thu theo quy định của pháp luật là 164.000đ (một trăm sáu mươi bốn nghìn đồng), số tiền thu lợi bất chính của H là 1.836.000đ (một triệu tám trăm ba mươi sáu nghìn đồng). Lãi suất thực tế trong trường hợp này là từ 6.667₫/1.000.000đ/ngày, tương đương 243,3% gấp 12,2 lần lãi suất cho phép quy định tại Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Hành vi của Nguyễn Văn H đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C lập hồ sơ, đề nghị truy tố về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.
Tại Bản Cáo trạng số: 21/CT-VKSCB.P2 ngày 06 tháng 05 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã truy tố Nguyễn Văn H về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở trên và thừa nhận Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố là đúng với hành vi đã thực hiện. Bị cáo khai, đối với số tiền gốc cho vay trong thực tế ban đầu không có số tiền lớn như vậy, bị cáo bỏ ra 25 triệu đồng dùng để làm vốn vay quay vòng. Ngày 27/6/2024, bị cáo nộp số tiền thu lợi bất chính 20.000.000đ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt tại phiên tòa: Quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ đều khai nhận về số tiền vay, lãi xuất, số tiền đã trả, nợ gốc phù hợp với cáo trạng và lời khai bị cáo. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa đều đề nghị không yêu cầu bị cáo phải trả lại khoản tiền lãi vượt 20%; đối với Hoàng Thị Thùy L đề nghị Tòa xem xét giải quyết theo quy định của Nhà nước.
Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên tham gia phiên toà trình bày lời luận tội đánh giá các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo và khẳng định quyết định truy tố đối với Nguyễn Văn H về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự là có căn cứ pháp luật và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật đã viện dẫn nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:
Tội danh:
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Điều luật áp dụng và hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H số tiền 50.000.000 – 60.000.000 đồng nộp vào ngân sách Nhà nước;
Hình phạt bổ sung:
không áp dụng
Biện pháp tư pháp:
Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp tổng số tiền 138.628.000 đồng (gồm: Số tiền cho vay: 135.000.000 đồng + số tiền lãi đã thu tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu của người vay là 3.628.000 đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, xác định số tiền gốc bị cáo cho vay quay vòng là 47.096.000đ.
Buộc bị cáo phải trả số tiền thu lợi bất chính cho những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Phạm Thị C 15.240.000 đồng; Nguyễn Thị Thùy D 13.893.000 đồng; Nguyễn Thị Thu H2 1.836.000 đồng; Hoàng Thị Thùy L 7.904.000 đồng. Tuy nhiên do những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Phạm Thị C, Nguyễn Thị Thùy D, Nguyễn Thị Thu H2 không yêu cầu hoàn trả lại, do vậy cần tịch thu sung quỹ nhà nước với tổng số tiền là 30.969.000đ. Buộc bị cáo trả cho Hoàng Thị Thùy L 7.904.000 đồng.
Như vây, tổng số tiền bị cáo phải nộp ngân sách nhà nước là 81.693.000đ.
Xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh lá nhạt, máy cũ đã qua sử dụng, số Imei 1: 352970500113533; Imei 2: 353232940113535.
- - Trả lại cho ông Đàm Quốc K : 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đen, chưa có biển số, đã qua sử dụng, số khung: RLHJK0357PZ116940, số máy JK03E7816998.
Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo hối hận về hành vi phạm tội mong Hội đồng xét xử xem xét được hưởng hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội: Xét lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn H tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp nhau, phù hợp với các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung; lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án; Trích xuất dữ liệu điện tử từ chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo thể hiện nội dung liên quan đến hành vi bị cáo thực hiện; Sao kê tài khoản Ngân hàng của bị cáo; B thống kê thu lợi bất chính có xác nhận bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: Từ tháng 5 năm 2022 đến tháng 10 năm 2023, Nguyễn Văn H đã nhiều lần thực hiện thành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự dưới hình thức vay “bát", với mỗi “bát” tương ứng với số tiền 10.000.000 đồng thời hạn vay 40 ngày, mức lãi suất thực tế Hoạt đã thu từ khách vay là từ 4.500đồng/1.000.000đ/1ngày đến 13.636đ/1.000.000đ/ngày (tương đương mức lãi suất từ 164,3% đến 497,7%/01 năm, chênh lệch vượt mức lãi suất từ 8,2 đến 24,9 lần lãi suất cho phép được quy định tại Bộ luật Dân sự). Nguyễn Văn H đã cho Hoàng Thị Thùy L, Phạm Thị C, Nguyễn Thị Thùy D và Nguyễn Thị Thu H2 vay với tổng số tiền là 135.000.000 đồng (Một trăm ba mươi năm triệu đồng), thu được 42.500.000 đồng (Bốn mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng) tiền lãi, trong đó: số lãi được phép thu là 3.628.000 đồng (ba triệu sáu trăm hai mươi tám nghìn đồng), H đã thu lợi bất chính số tiền 38.872.000 đồng (Ba mươi tám triệu tám trăm bảy mươi hai nghìn đồng).
Đây là vụ án Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự có tính chất ít nghiêm trọng. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, động cơ phạm tội nhằm được hưởng lợi từ hành vi cho vay lãi nặng. Việc Nguyễn Văn H thực hiện hành vi cho vay lãi nặng hưởng lợi số tiền 38.872.000 đồng (Ba mươi tám triệu tám trăm bảy mươi hai nghìn đồng) đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” thuộc trường hợp “Thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cho vay tiền với lãi suất cao, hành vi đó không những đã trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng mà còn mang tính chất bóc lột, làm cho người vay tiền lâm vào hoàn cảnh khó khăn, gây mất trật tự trị an ở địa phương.
Do vậy, việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết, nhằm mục đích răn đe giáo dục riêng đối với bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh chống tội phạm và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân:
Ngày 13/8/2020 bị Công an thành phố C xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc;
Về tình tiết tăng nặng:
không có
Về tình tiết giảm nhẹ:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo đã tự nguyện nộp tiền tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng số tiền 20.000.000đ để khắc phục số tiền thu lợi bất chính nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra; nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng; có thu nhập ổn định. Xét bị cáo có đủ điều kiện để áp dụng hình phạt chính là phạt tiền và cần xử bị cáo mức khởi điểm của khung hình phạt.
Xét mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ cần xem xét chấp nhận.
[5]. Về hình phạt bổ sung:
Khoản 3 Điều 201 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Xét thấy: Hội đồng xét xử đã xử phạt bị cáo hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo. Do vậy, không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung.
[6] Biện pháp tư pháp: Căn cứ vào công văn hướng dẫn số: 212/TANDTC-PC, ngày 13-9-2019 của Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự; Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20-12-2021 hướng dẫn áp dụng Điều 201 Bộ luật Hình sự về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, cần xử:
[6.1] Đối với khoản tiền bị cáo cho vay (tiền gốc):
Trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 2022 đến ngày 10/2023, Nguyễn Văn H đã trực tiếp cho 04 (Bốn) khách vay tiền với tổng số tiền là 135.000.000 đồng (Một trăm ba mươi năm triệu đồng) với mức lãi suất là 164,3%/năm đến 497,7%/năm, vượt mức lãi suất cho phép theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 từ 8,2 lần đến 24,9 lần nên cần truy thu số tiền 135.000.000 đồng là công cụ phương tiện phạm tội để nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, căn cứ lời khai của bị cáo, lời khai của người vay và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa đã xác định được số tiền gốc do bị cáo dùng làm vốn cho vay quay vòng với số tiền là 47.096.000đ.
[6.2] Đối với khoản tiền lãi và khoản tiền thu lợi bất chính:
- Đối với khoản tiền lãi không vượt quá mức lãi suất 20%/năm: 3.628.000 đồng đây là khoản tiền phát sinh từ hành vi phạm tội nên cần tịch thu đối với bị cáo để nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với khoản tiền lãi suất vượt quá trên 20%/năm: Tổng số tiền 38.872.000 đồng đây là khoản tiền bị cáo thu lợi bất chính từ người vay nên cần xử buộc bị cáo trả khoản tiền này cho những người vay. Cụ thể:
- + Trả cho Phạm Thị C 15.240.000 đồng;
- + Trả cho Nguyễn Thị Thùy D 13.893.000 đồng;
- + Trả cho Nguyễn Thị Thu H2 1.836.000 đồng;
- + Trả cho Hoàng Thị Thùy L 7.904.000 đồng;
Tuy nhiên do những có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Phạm Thị C, Nguyễn Thị Thùy D, Nguyễn Thị Thu H2 không yêu cầu hoàn trả lại, do vậy cần tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 30.969.000 đồng. Buộc bị cáo trả cho Hoàng Thị Thùy L 7.904.000 đồng.
[7]. Về xử lý vật chứng:
- - Các vật chứng là điện thoại bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội, cần xử tịch thu hóa giá lấy tiền nộp ngân sách Nhà nước;
- - Xe mô tô tạm giữ của bị cáo là tài sản mua trả góp của ông Đàm Quốc K ( do Hoàng Thị Thùy L đem đi đặt với bị cáo để vay tiền) nên cần trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[8]. Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố:
Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.
2. Biện pháp tư pháp:
Căn cứ Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20-12-2021 hướng dẫn áp dụng Điều 201 Bộ luật Hình sự về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, xử:
- Truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước:
- + Số tiền gốc 47.096.000đ (bốn mươi bảy triệu không trăm chín mươi sáu nghìn đồng) do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.
- + Số tiền lãi suất tương ứng với lãi suất 20%/năm là 3.628.000đồng (Ba triệu sáu trăm hai mươi tám nghìn đồng).
- + Số tiền lãi bất hợp pháp vượt lãi suất 20%/năm của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo hoàn trả là 30.969.000₫ (Ba mươi triệu chín trăm sáu mươi chín nghìn đồng)
Tổng cộng bị cáo phải nộp số tiền: 81.693.000 đồng (T1 mươi mốt triệu sáu trăm chín mươi ba nghìn đồng) vào ngân sách Nhà nước.
- Buộc bị cáo phải trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khoản tiền thu lợi bất chính: Bà Hoàng Thị Thùy L, sinh năm 1994; Trú tại: Tổ A, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng số tiền 7.904.000 đồng (Bảy triệu chín trăm linh bốn nghìn đồng).
Xác nhận bị cáo Nguyễn Văn H đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) tại biên lai thu tiền số 0000279 ngày 27/6/2024 và số tiền này sẽ được khấu trừ khi thi hành án.
3. Việc xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu hóa giá lấy tiền nộp vào ngân sách Nhà nước đối với bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh lá nhạt, máy cũ đã qua sử dụng, số Imei 1: 352970500113533; Imei 2: 353232940113535.
- - Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đàm Quốc K, sinh năm 1990, trú tại tổ H, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION màu đen, chưa có biển số, đã qua sử dụng, số khung: RLHJK0357PZ116940, số máy JK03E7816998.
Xác nhận toàn bộ vật chứng nêu trên đã được chuyển giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng số: 109 ngày 28 tháng 5 năm 2024.
4. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ các Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, có quyền kháng cáo phần Bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nông Biên Hòa |
Bản án số 97/2024/HS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 97/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn Hoạt phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Hoạt số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.
