TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 97/2024/HS-ST Ngày: 11-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Vân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Hữu Nghĩa
- Ông Trịnh Minh Tường
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Trúc Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hào - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 94/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Mai Văn K, sinh năm 1981 tại tỉnh Tây Ninh; Nơi ở hiện nay: Khu phố G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn T, sinh năm 1935 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1940 (đã chết); vợ: Lê Thị T2, sinh năm 1984, con: Có 01 con sinh năm 2005; Tiền án: Bản án số 50/2023/HSST ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 26/4/2024, chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 20/4/2018, Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh có Quyết định số 20/QĐ-TA đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian 20 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Tây Ninh, đến ngày 20/9/2019 đã chấp hành xong; Ngày 29/9/2022, Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính.
- Đào Văn H, sinh năm 1992 tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Trung T3, sinh năm 1952 (đã chết) và bà Đỗ Thị T4, sinh năm 1952; vợ: Nguyễn Thị P, sinh năm 1997 (đã ly hôn), con: Có 01 con sinh năm 2022; Tiền án: Có 01 bản án hình sự sơ thẩm số 17/2023/HSST ngày 24/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xử phạt bị cáo Đào Văn H 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong án phạt tù ngày 22/5/2024, chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2011/HSST ngày 26/9/2011 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đào Văn H 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong bản án vào ngày 24/8/2016 và được xóa án tích.
- Nguyễn Văn T5, sinh năm 1997 tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T6, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Bé T7, sinh năm 1978; vợ: Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1996, con: Có 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/7/2024, đến ngày 17/7/2024 chuyển tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/7/2024, đến ngày 17/7/2024 chuyển tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/7/2024, đến ngày 17/7/2024 chuyển tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- Bà Nguyễn Thị Thu S, sinh năm 1991; nơi cư trú: Tổ B, ấp S, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Bà Phạm Thị G, sinh năm 1958; nơi cư trú: Tổ H, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1984; HKTT: tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, hiện trú tại: tổ F, khu phố G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Ông Dương Quốc T8, sinh năm 1985; HKTT: tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, hiện trú tại: tổ F, khu phố G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Bà Trần Thị Hồng H1, sinh năm 1989; nơi cư trú: tổ H, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Mai Văn K và Đào Văn H là các đối tượng nghiện ma túy, không nghề nghiệp ổn định. K chủ động rủ H đi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện T và huyện C, tỉnh Tây Ninh để bán lấy tiền mua ma túy sử dụng thì Hiệp đồng ý. Từ ngày 06/7/2024 đến ngày 11/7/2024, K và H thực hiện tổng cộng 02 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 10 giờ ngày 06/7/2024, Đào Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển số: 70G1-946.15 của H chở Mai Văn K đi từ thành phố T về thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Khi đi đến ngã ba V thuộc địa bàn xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh, K rủ H đi về hướng xã P, huyện C, tỉnh Tây Ninh để tìm xe mô tô lấy trộm thì Hiệp đồng Ý. H chở K đi đến ấp S, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh phát hiện xe mô tô, nhãn hiệu SIMBA, màu nâu, biển số: 70H1-7306 của bà Nguyễn Thị Thu S, sinh năm 1991, ngụ ấp S, xã A, huyện C, tỉnh Tây Ninh đang để trên lề đường, trên xe có sẵn chìa khóa và không có người trông coi. H đi đến lấy trộm và nổ máy xe chạy về hướng ngã ba V còn K điều khiển xe của H chạy theo sau. Trên đường đi, biển số xe của bà S đã bị rơi mất. Sau đó, K và H đi đến nhà trọ “Trí Bảo” bán xe vừa trộm được cho vợ chồng bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1984, ngụ khu phố G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh và ông Dương Quốc T8, sinh năm 1985, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh với giá 1.700.000 đồng. Khi bán xe, K nói xe của bạn nhờ bán giùm, ông T8 và bà C không biết xe K bán là do trộm cắp mà có nên đã mua. Ông T8 và bà C đã trả cho K 1.400.000 đồng, còn nợ lại 300.000 đồng. K chia cho H 700.000 đồng, sau đó K và H đã tiêu xài cá nhân.
Sau khi biết xe mô tô, nhãn hiệu SIMBA, màu nâu, biển số: 70H1-7306 là do K trộm cắp mà có nên bà C đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Vụ 2: Khoảng 09 giờ ngày 11/7/2024, H sử dụng xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển số: 70G1-946.15 chở K đi đến khu vực tổ H, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu DONA, màu xanh, biển số: 70H9-0434 của Phạm Thị G, sinh năm 1958, ngụ: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh do bà G mượn của bà Trần Thị Hồng H1, sinh năm 1989, ngụ cùng địa chỉ để đi lượm mủ cao su đang để ở đầu vườn cây cao su cách chỗ để xe khoảng 50m không có người trông coi, không có chìa khóa trên xe. Lúc này, H đi đến vị trí xe lấy trộm xe còn K ở ngoài đường cách đó khoảng 30m cảnh giới và chờ H. Khi H lấy trộm xe xong thì đẩy ra đường giao cho K điều khiển còn H điều khiển xe của H đi về hướng xã T sau đó đi vào đường liên xã T - T. Khi đi đến địa bàn xã T, K và H dừng xe lại, K tháo đầu nối dây điện công tắc của xe vừa trộm được, nổ máy chạy về nhà trọ “Trí Bảo”, thuộc khu phố G, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh tìm người để bán. K và H liên hệ và bán xe mô tô trộm được cho Nguyễn Văn T5 với giá 1.500.000 đồng. Khi bán xe thì K nói rõ cho T5 biết xe do K và H vừa trộm được của người khác nhưng T5 vẫn đồng ý mua.
Khi bán xe xong, K và H dặn T5 không đi đến khu vực ấp T, xã T và xã H để tránh bị chủ xe phát hiện. K kêu T5 thay khóa công tắc xe và mang xe về nhà của T5 ở huyện G sử dụng, không sử dụng trên địa bàn huyện T để tránh bị phát hiện. K và T5 thống nhất nếu có bị chủ xe phát hiện thì T5 sẽ nói mua ở tiệm hớt tóc của một người không quen biết. K lấy biển số 70K7 - 4869 trên xe Wave bị hư hỏng mà ông Mai Văn S1, sinh năm 1976, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh cho T5 trước đó để gắn vào xe mô tô trộm được để tránh bị phát hiện. T5 bán xe Wave mà ông S1 cho T5 cho người đi đàn ông đi mua ve chai dạo được 1.000.000 đồng và trả trước cho K, còn nợ lại 500.000 đồng. K chia cho H 500.000 đồng. Sau đó, H chở K đến thành phố T mua ma túy sử dụng thì bị phát hiện và thu giữ vật chứng.
Tại Cơ quan điều tra, Mai Văn K, Đào Văn H và Nguyễn Văn T5 đã khai nhận rõ toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Trong quá trình điều tra Mai Văn K, Đào Văn H và Nguyễn Văn T5 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình. Nguyễn Văn T5 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Mai Văn K và Đào Văn H đã phạm tội 02 lần trở lên và tái phạm.
Kết quả trưng cầu giám định
- Tại Bản Kết luận giám định số: 1579/KL-KTHS ngày 14 tháng 4 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Tiền Việt Nam: 670.000 đồng là tiền thật.
- Tại Bản Kết luận giám định số: 1852/KL-KTHS ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển số: 70G1 - 946.15, số máy: JA39E2952919, số khung: RLHJA3920NY497860, số khung, số máy không bị đục xóa.
- Tại Bản Kết luận định giá tài sản số: 30/KL-HĐĐGTS ngày 12/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu DOHA, biển số: 70H9-0434 số khung: NJ100200121350, số máy: 1P50FMG- 310951648, có giá 3.500.000 đồng.
- Tại Bản Kết luận định giá tài sản số: 27/KL-HĐĐG ngày 06/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: Xe mô tô, nhãn hiệu SIMBA, biển số: 70H1-7306, số máy: 1P53FMHY0263963, số khung: F110-II 20100333, đã qua sử dụng, có giá 1.933.000 đồng.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật; xử lý vật chứng: Có bảng thống kê kèm theo.
* Kết quả kê biên tài sản: Qua xác minh tài sản Mai Văn K, Đào Văn H và Nguyễn Văn T5 không có tài sản riêng có giá trị nên không tiến hành kê biên.
* Về trách nhiệm dân sự:
- Bà Phạm Thị G, Nguyễn Thị Thu S, đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường.
- Bà Nguyễn Thị C và ông Dương Quốc T8 không yêu cầu Mai Văn K và Đào Văn H trả lại số tiền 1.400.000 đồng.
Cáo trạng số 92/CT-VKSTB, ngày 25 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Mai Văn K, Đào Văn H về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và Nguyễn Văn T5 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Mai Văn K, Đào Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn T5 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Mai Văn K từ 18 tháng đến 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Đào Văn H từ 15 tháng đến 18 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T5 mức án từ từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận bị hại bà Nguyễn Thị Thu S, bà Phạm Thị G đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại.
Các bị cáo K, H và T5 thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã truy tố và không có ý kiến tranh luận.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo K, H, T5 xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi của các bị cáo thể hiện:
Vào ngày 06/7/2024 và ngày 11/7/2024 bị cáo Mai Văn K và bị cáo Đào Văn H đều có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm của bà Nguyễn Thị Thu S 01 xe mô tô nhãn hiệu SIMBA, màu nâu, biển số: 70H1-7306 trị giá 1.933.000 đồng tại khu vực ngã ba V thuộc địa bàn xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh; của bà Phạm Thị G 01 xe mô tô nhãn hiệu DONA, màu xanh, biển số: 70H9-0434 trị giá 3.500.000 đồng tại khu vực tổ H, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh để bán lấy tiền tiêu xài. Tổng giá trị tài sản 5.433.000 đồng. Hành vi của các bị cáo Mai Văn K và Đào Văn H đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, nên đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng đã truy tố là có căn cứ.
Ngày 11/7/2024, bị cáo Nguyễn Văn T5 không hứa hẹn trước nhưng biết rõ tài sản xe mô tô nhãn hiệu DONA, màu xanh, biển số: 70H9-0434 là tài sản do trộm cắp mà có nhưng Nguyễn Văn T5 vẫn đồng ý mua. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T5 đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Bản Cáo trạng số 92/CT-VKSTB, ngày 25 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Mai Văn K và Đào Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn T5 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Đối với ông Dương Quốc T8 và bà Nguyễn Thị C khi mua xe mô tô nhãn hiệu SIMBA, màu nâu, biển số: 70H1-7306 của K và H không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có và đã giao nộp lại tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không xử lý là đúng quy định.
[4] Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm pháp luật hình sự đối với hành vi đã gây ra.
[5] Xét tính chất mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo:
Trong vụ án này, bị cáo Mai Văn K là người khởi xướng, chủ động rủ rê bị cáo Đào Văn H đi trộm cắp tài sản của bị hại S và Giữ, các bị cáo K, H đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản, vừa chấp hành xong án phạt tù, chưa được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục tái phạm nên Hội đồng xét xử xem xét cần xử bị cáo K mức án cao hơn bị cáo H phù hợp tính chất, hành vi phạm tội.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn T5 biết rõ tài sản là do các bị cáo phạm tội mà có nhưng bị cáo vẫn đồng ý mua sử dụng nên cần xử bị cáo T5 mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[6] Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho các bị cáo:
Tình tiết tặng nặng: Bị cáo Mai Văn K và bị cáo Đào Văn H bị áp dụng tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm” quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Mai Văn K và Đào Văn H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn H2 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về hình phạt áp dụng: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ; nhân thân của bị cáo thấy rằng cần cách ly các bị cáo K, H2, T5 ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội.
[8] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Mai Văn K, Đào Văn H, Nguyễn Văn T5 do các bị cáo không có tài sản và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[9] Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu các bị cáo Mai Văn K, Đào Văn H, Nguyễn Văn T5 bồi thường gì thêm.
[10] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự truy tịch thu bị cáo Mai Văn K số tiền 830.000 (tám trăm ba mươi nghìn) đồng và bị cáo Đào Văn H số tiền 900.000 (chín trăm nghìn) đồng là tiền thu lợi bất chính nên cần truy tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 670.000 (sáu trăm bảy mươi nghìn) đồng là tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội của các bị cáo Mai Văn K, Đào Văn H.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển số 70G1 – 946.15, số khung RLHJA3920NY497860, số máy JA39E2952919, đã qua sử dụng cùng Kết luận giám định số: 1582/KL-KTHS ngày 06/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T và bản ảnh giám định (bản gốc) của bị cáo Đào Văn H là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
(Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/10/2024).
[11] Về án phí: Các bị cáo Mai Văn K, Đào Văn H, Nguyễn Văn T5 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Mai Văn K, Đào Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Nguyễn Văn T5 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017):
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017):
- Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Về trách nhiệm dân sự:
- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
- - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển số 70G1 – 946.15, số khung RLHJA3920NY497860, số máy JA39E2952919, đã qua sử dụng cùng Kết luận giám định số: 1582/KL-KTHS ngày 06/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T và bản ảnh giám định (bản gốc).
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 670.000 (sáu trăm bảy mươi nghìn) đồng.
- - Truy tịch thu bị cáo Mai Văn K số tiền 830.000 (tám trăm ba mươi nghìn) đồng và bị cáo Đào Văn H số tiền 900.000 (chín trăm nghìn) đồng.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Mai Văn K, Đào Văn H, Nguyễn Văn T5 mỗi bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án ./.
Xử phạt bị cáo Mai Văn K 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 12/7/2024.
Xử phạt bị cáo Đào Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 12/7/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T5 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 12/7/2024.
Ghi nhận bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu các bị cáo Mai Văn K, Đào Văn H, Nguyễn Văn T5 bồi thường gì thêm.
(Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/10/2024).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Vân |
Bản án số 97/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH về trộm cắp tài sản; tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 97/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản; Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mai Văn K, Đào Văn H trộm cắp tài sản
