Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÊ LINH - TP HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 97/2024/HS-ST

Ngày 11 tháng 09 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH – TP HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Thanh Phong.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kiều Xuân Mai.

Bà Dương Thị Kim Lan.

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mê Linh – TP Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh - TP Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Đoàn Quang Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 11/09/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mê Linh- TP Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 110/2024/TLST-HS ngày 05/09/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2024/QĐXXST- HS ngày 05/09/2024 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn T – sinh năm 1980; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Nguyễn Văn T1; Nơi ĐKHKTT: không có; Chỗ ở hiện tại: tổ A phường T, quận L, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): không; H và tên bố: Nguyễn Văn T2 (không rõ năm sinh); H và tên mẹ: Nguyễn Thị G (không rõ năm sinh); A, chị, em ruột: Gia đình có 02 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: không; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an thành phố H.

(Có mặt tại phiên tòa)

2- Họ và tên: Nguyễn Bá C sinh năm 1996; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Tổ C phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở hiện tại: tổ A phường T, quận L, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): không; H và tên bố: Nguyễn Bá D – sinh năm 1971 (đã chết); Họ và tên mẹ: Bùi Thị O - sinh năm 1972; A, chị, em ruột: Gia đình có 02 người, bị can là con thứ hai; Vợ, con: không; Tiền án: Ngày 28/11/2022, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bị cáo chưa được xóa án tích; Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an thành phố H.

(Có mặt tại phiên tòa)

3- Họ và tên: Nguyễn Văn G1 – sinh năm 1984; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Nguyễn Trọng G2; Nơi ĐKHKTT: tổ E, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở hiện tại: tổ D, phường T, quận L, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 0/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): không; H và tên bố: Nguyễn Trọng Đ – sinh năm 1953 (đã chết); Họ và tên mẹ: Hoàng Thị T3 – sinh năm 1957; A, chị, em ruột: Gia đình có 04 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: không; Tiền án: Ngày 28/11/2022, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Bị cáo chưa được xóa án tích; Tiền sự: không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an thành phố H.

(Có mặt tại phiên tòa)

4- Họ và tên: Phạm Văn T4 – sinh năm 1984; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Nơi ĐKHKTT: xúm S, xó G, huyện G, tỉnh Nam Định; Chỗ ở hiện tại: tổ D, phường T, quận L, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): không; H và tên bố: Phạm Văn T5 – sinh năm 1965; Họ và tên mẹ: Trần Thị T6 – sinh năm 1967; A, chị, em ruột: Gia đình có 03 người, bị can là con thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị M sinh năm 1984; Con: 03 con. Con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/5/2024 đến ngày 20/8/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giam. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Có mặt tại phiên tòa)

• Bị hại: Trường Tiểu học V, xã V, huyện M, Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: ông Lê Văn Đ1 - Hiệu trưởng.

(Vắng mặt tại phiên tòa)

• Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nguyễn Minh P, sinh năm 1990. Địa chỉ số C N, quận L, Hà Nội.

(Có mặt tại phiên tòa)

  1. Tạ Thị T7 sinh năm 1970. Địa chỉ Thôn A, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên(0913.398638).

(Vắng mặt tại phiên tòa)

• Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1987. Địa chỉ thôn K, xã V, huyện M, Hà Nội (0852.546.888).

(Vắng mặt tại phiên tòa)

  1. Ông Đinh văn P1 sinh năm 1966. Địa chỉ Địa chỉ thôn K, xã V, huyện M, Hà Nội. (0385.344.5720).

(Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 16/5/2024, anh Nguyễn Văn T (sinh năm 1987; trú tại thôn K, xã V, huyện M, thành phố Hà Nội) là bảo vệ Trường Tiểu học V, xã V đã có đơn trình báo về việc khoảng 05 giờ ngày 16/5/2024, anh T phát hiện Trường Tiểu học Văn Khê A bị cắt trộm khoảng 70 đến 80m dây cáp điện trị giá khoảng 96.000.000 đồng. Căn cứ vào đơn trình báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã làm rõ:

Chiều ngày 15/05/2024, Nguyễn Văn TNguyễn Bá C rủ nhau đi đến khu vực huyện M khảo sát đường V đang thi công xem có ai thuê giải phóng mặt bằng hay không để đứng ra đấu thầu. Khi đến khu vực đường đê đoạn qua trường Tiểu học xã V, huyện M, thành phố Hà Nội, TC quan sát thấy ở đoạn đường bê tông từ đường ven đê đi vào cổng Trường Tiểu học xã V có đoạn dây cáp điện rơi võng xuống sát đường. Do làm nghề phá dỡ công trình, T biết đây là cáp có lõi đồng giá trị cao nên T nảy sinh ý định trộm cắp đoạn dây cáp bán lấy tiền tiêu xài. T bảo C “đây có sợi dây cáp, tối anh em mình đi làm” C hiểu ý T rủ đi cắt trộm đoạn dây cáp điện nên đồng ý. T bảo C về rủ thêm Nguyễn Văn G1 đi trộm cắp cùng. Sau đó T chở C về nhà trọ để chờ đến đêm sẽ đi cắt trộm cáp điện. Khoảng hơn 22 giờ 30 phút ngày 15/05/2024, T chuẩn bị 01 kìm điện và găng tay vải cất trong cốp xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát: 29C2-070.85 rồi điều khiển xe đi ra công viên phường N, quận L đón C đi trộm cắp tài sản. CT đi đến phòng trọ của G1tổ D G, phường T, quận L, thành phố Hà Nội để đón G1 rồi đi đến cửa hàng thu mua phế liệu của Phạm Văn T4 để rủ T4 đi trộm cắp cùng. Khi đến cửa hàng của T4, T rủ T4 là “có đi làm không”, T4 hiểu ý T rủ T4 đi trộm cắp tài sản nên hỏi “làm ở đâu”, T trả lời “ở bờ đê”. T hỏi mượn T4 01 chiếc kìm màu xanh bằng kim loại dài khoảng 40cm rồi cho vào bao tải đưa cho C cầm. Sau đó, T4 điều khiển xe Honda Wave biển kiểm soát 30H8 -0474 chở G1 kéo theo 01 xe lôi, đi theo sau xe TC. Các đối tượng T, C, T4, G1 đi qua cầu Đ sang huyện Đ rồi đi theo đường đê đến khu vực xã V, huyện M. Khi đến đoạn dốc đi xuống cơ đê gần cổng Trường Tiểu học V thuộc thôn K, xã V thì T tắt đèn xe và bảo T4 tắt đèn xe đi theo xuống dưới đường cơ đê. Sau đó, T cùng G1C cầm theo găng tay cùng kìm điện và kìm cắt cáp đi vào đoạn đường bê tông trước cổng trường học để cắt trộm dây cáp còn T4 ngồi chờ trên cơ đê. T bảo CG1 trèo lên cột điện để cắt dây thép treo dây cáp điện để dây cáp điện trùng xuống dưới, sau đó T sử dụng kìm cắt cáp cắt đầu dây cáp thì bị chập điện làm điện trong trường học bị mất (thời điểm này T mới biết dây cáp có điện). Thấy điện đã bị chập và mất điện, T biết dây cáp không có điện nên tiếp tục đi đến gần cổng trường để cắt đầu còn lại của dây cáp. Sau đó, T gọi T4 lùi xe lại để kéo cáp cho lên xe lôi rồi T cùng C, G1T4 lôi dây cáp xếp lên xe lôi. Đến khoảng 01 giờ 15 phút ngày 16/5/2024, sau khi xếp xong T bảo T4 chở G1 đi trước kéo theo xe lôi còn T chở C đi sau đi về theo đường cũ về cửa hàng của T4. Khi về đến nơi, cả nhóm bê dây cáp xuống rồi dùng dao, kìm tách toàn bộ lớp vỏ nhựa màu đen ở bên ngoài dây cáp còn lại 04 lõi dây đồng có lớp nhựa màu trắng bên ngoài. Sau đó, cả nhóm cắt một đoạn dây cáp cho lên cân thử rồi dùng dao dọc giấy cắt phần nhựa trắng ngoài lõi dây đồng để tính xem sợi dây cáp có bao nhiêu là kim loại đồng bao nhiêu là nhựa. Sau khi cân thì thấy sợi dây cáp trên có bảy phần là kim loại đồng còn ba phần là nhựa. Tổng số dây cáp cân lên được khoảng 130kg trừ đi phần nhựa còn khoảng gần 100kg là kim loại đồng. Sau khi cân xong, T thoả thuận giá bán đồng với T4 là 205.000đ/1kg và được tổng số tiền là 20.300.000 đồng. Sau đó, T4 đưa cho G1C mỗi người 5.000.000 đồng và đưa T 5.300.000 đồng để T trả tiền ăn và tiền xăng xe đi lại còn lại 5.000.000 đồng Thanh được hưởng từ tiền ăn chia. Sau khi nhận được tiền T cùng G1C đi ăn đêm sau đó về nhà. Sau khi T, C, G1 đi về, T4 khóa cửa cất đoạn dây cáp dưới tấm bìa cattong để tránh vợ T4 là chị Nguyễn Thị M (sinh năm 1980) phát hiện. Cất giấu xong, T4 vào phòng đi ngủ. Đến khoảng 07 giờ sáng cùng ngày, khi chị M đưa con đi học và đi lấy hàng thì T mang cuộn cáp ra rồi dùng dao dọc giấy tách toàn bộ lớp vỏ nhựa màu trắng ra để nguyên đoạn lõi dây bằng đồng. Tách xong T cho lõi dây đồng vào bao tải dứa màu trắng rồi buộc lại giấu dưới đống bìa cát tông. Đến chiều cùng ngày, T4 lấy điện thoại của vợ bấm vào số điện thoại của chị Tạ Thị T7 (sinh năm 1970, trú tại thôn A, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên - là người thường xuyên thu mua sắt vụn của vợ chồng T4) gọi chị T7 với nội dung “chị ơi em mới lấy được chỗ dây đồng thanh lý, chị đến mua hộ em” thì chị T7 đồng ý. Khoảng 07 giờ ngày 17/05/2024, chị T7 đi xe máy đến thì T4 mang bao tải đựng dây đồng ra để cân và xác định khối lượng dây đồng khoảng 100kg, chị T7 đồng ý mua với số tiền 220.000đ/kg = 22.000.000 đồng. Sau đó, chị T7 đưa cho T4 số tiền 22.000.000 đồng, T4 cầm tiền rồi buộc bao tải đựng dây đồng lên xe máy của chị T7 để chị T7 chở về.

Ngày 16/5/2024, sau khi phát hiện bị mất trộm tài sản, anh Nguyễn Văn T đã có đơn trình báo cơ quan Công an như đã nêu trên.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 51/KL-HĐĐGTS ngày 24/05/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M kết luận: “56,1m dây cáp điện nhãn hiệu CU/XPLE/PVC kích thước 4 x 95mm, loại 0,6/1kv. Tổng giá trị tài sản thiệt hại là: 43.533.600 đồng.

* Vật chứng thu giữ:

- Tạm giữ của Nguyễn Văn T:

  • 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alphasơn màu xanh tím than, BKS: 29C2-07085, SK: RLHJA3939RY024330, SM: JA70E - 0291198.
  • 01 con dao dọc giấy nhãn hiệu Kapusi có tổng chiều dài cán dao và lưỡi dao 230mm, phần cán dao bằng nhựa màu trắng bạc dài 155mm. Lưỡi dao bằng kim loại màu đen in dòng chũ Kapusi.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92, vỏ màu xanh đen bên trong lắp sim số 0383688065. Imei1: 0862251056926351, Imei2: 862251056926344.

- Tạm giữ của Phạm Văn T4:

  • 01 xe máy nhãn hiệu Honda loại Wave RS, sơn màu xanh ngọc, BKS: 30H8-0474, SK: RLHHHC009007Y614748, SM: HC09E-5714628.
  • 01 xe cải tiến (loại xe lôi) có chiều dài từ đầu càng xe đến đuôi xe khoảng 2,5m. Chiều rộng thành xe 92cm, chiều rộng lòng xe 83cm, chiều cao từ dưới bánh xe đến thành xe 72cm, xe đã qua sử dụng.
  • 01 kìm cắt có đầu cắt dạng mỏ quạ, có 02 tay cầm, chuôi được bọc nhựa màu đen, thân tay cầm sơn màu cam chiều dài khi gập tay cầm là 47cm, lưỡi cắt bằng kim loại bị hoen rỉ, bị gãy chốt bên tay cầm.
  • 01 cân đồng hồ lò xo nhãn hiệu Nhơn Hòa loại 100Kg.

- Tạm giữ của anh Nguyễn Văn T (bảo vệ):

  • 01 chiếc kìm dài 19cm, chuôi màu đen cam đã qua sử dụng.
  • 01 chiếc găng tay vải màu trắng đã qua sử dụng.
  • 01 đôi găng tay cao su màu sáng đã qua sử dụng.

Đối với chiếc xe máy Honda Wave Alpha biển kiểm soát: 29C2-07085: Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy trên T mượn của chị Nguyễn Minh P (sinh năm 1990, trú tại số C N, quận L, thành phố Hà Nội - là bạn của T). Chị P không biết việc T mượn chiếc xe trên để đi trộm cắp tài sản nên ngày 22/8/2024, Cơ quan điều tra đã trao trả lại chiếc xe trên cho chị P theo quy định.

Số vật chứng còn lại được chuyến đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Thị MTạ Thị T7, quá trình điều tra xác định chị M và chị T7 không biết số dây cáp trên do Nguyễn Văn T cùng đồng phạm trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

* Về trách nhiệm dân sự: Trường Tiểu học V đã nhận số tiền bồi thường là 60.000.000₫ (sáu mươi triệu) đồng. Đại diện trường đã nhận số tiền trên và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, phù hợp tài liệu hồ sơ của vụ án.

Tại phiên tòa, bị cáo T có ý kiến cho bị cáo C 5.000.000đ (năm triệu) đồng trong số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu) đồng đã bồi thường cho bị hại để khắc phục hậu quả.

Tại phiên tòa, bị cáo T4 có ý kiến cho bị cáo G1 5.000.000đ (năm triệu) đồng trong số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu) đồng đã bồi thường cho bị hại để khắc phục hậu quả.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị P không có ý kiến đề nghị gì.

Tại bản cáo trạng số: 106/CT-VKS ngày 30/08/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Mê Linh đã truy tố bị cáo: Nguyễn Văn T, Nguyễn Bá C, Nguyễn Văn G1Phạm Văn T4 đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng:

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Bá C, Nguyễn Văn G1Phạm Văn T4 đã đủ yếu tố cấu thành tội: Trộm cắp tài sản. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo vì tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn, ăn năn, hối cải, đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại.

* Về tội danh và hình phạt:

  1. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại: khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo: Nguyễn Văn T.
  2. Đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T. mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/05/2024.

  3. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại: khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo: Nguyễn Bá C.
  4. Đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Bá C mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/05/2024.

  5. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại: khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo: Nguyễn Văn G1.
  6. Đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn G1 mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/05/2024.

  7. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại: khoản 1 Điều 173; điểm i, b, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; điều 65 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo: Phạm Văn T4.
  8. Đề nghị xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T4 mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Hạn thử thách 05 (năm) năm.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

* Về dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47, điều 48 của Bộ luật hình sự 2015. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

- Về trách nhiệm dân sự: Trường Tiểu học V đã nhận số tiền bồi thường là 60.000.000₫ (sáu mươi triệu) đồng. Đại diện trường đã nhận số tiền trên và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

  • + Trả cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92, vỏ màu xanh đen bên trong lắp sim số 0383688065. Imeil: 0862251056926351, Imei2: 862251056926344.
  • + Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe máy nhãn hiệu Honda loại Wave RS, sơn màu xanh ngọc, BKS: 30H8-0474, SK: RLHHHC009007Y614748, SM: HC09E-5714628; 01 xe cải tiến (loại xe lôi) có chiều dài từ đầu càng xe đến đuôi xe khoảng 2,5m. Chiều rộng thành xe 92cm, chiều rộng lòng xe 83cm, chiều cao từ dưới bánh xe đến thành xe 72cm, xe đã qua sử dụng; 01 cân đồng hồ lò xo nhãn hiệu Nhơn H1 loại 100Kg.
  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao dọc giấy nhãn hiệu Kapusi có tổng chiều dài cán dao và lưỡi dao 230mm, phần cán dao bằng nhựa màu trắng bạc dài 155mm. Lưỡi dao bằng kim loại màu đen in dòng chũ Kapusi; 01 chiếc kìm dài 19cm, chuôi màu đen cam đã qua sử dụng; 01 chiếc găng tay vải màu trắng đã qua sử dụng; 01 đôi găng tay cao su màu sáng đã qua sử dụng; 01 kìm cắt có đầu cắt dạng mỏ quạ, có 02 tay cầm, chuôi được bọc nhựa màu đen, thân tay cầm sơn màu cam chiều dài khi gập tay cầm là 47cm, lưỡi cắt bằng kim loại bị hoen rỉ, bị gãy chốt bên tay cầm.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 của luật thi hành án hình sự 2019.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo” theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự và điều 93 của luật thi hành án hình sự 2019.

* Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

* Về dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47, điều 48 của Bộ luật hình sự 2015. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

- Về trách nhiệm dân sự: Trường Tiểu học V đã nhận số tiền bồi thường là 60.000.000₫ (sáu mươi triệu) đồng. Đại diện trường đã nhận số tiền trên và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

  • + Trả cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92, vỏ màu xanh đen bên trong lắp sim số 0383688065. Imeil: 0862251056926351, Imei2: 862251056926344.
  • + Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe máy nhãn hiệu Honda loại Wave RS, sơn màu xanh ngọc, BKS: 30H8-0474, SK: RLHHHC009007Y614748, SM: HC09E-5714628; 01 xe cải tiến (loại xe lôi) có chiều dài từ đầu càng xe đến đuôi xe khoảng 2,5m. Chiều rộng thành xe 92cm, chiều rộng lòng xe 83cm, chiều cao từ dưới bánh xe đến thành xe 72cm, xe đã qua sử dụng; 01 cân đồng hồ lò xo nhãn hiệu Nhơn H1 loại 100Kg.
  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao dọc giấy nhãn hiệu Kapusi có tổng chiều dài cán dao và lưỡi dao 230mm, phần cán dao bằng nhựa màu trắng bạc dài 155mm. Lưỡi dao bằng kim loại màu đen in dòng chũ Kapusi; 01 chiếc kìm dài 19cm, chuôi màu đen cam đã qua sử dụng; 01 chiếc găng tay vải màu trắng đã qua sử dụng; 01 đôi găng tay cao su màu sáng đã qua sử dụng; 01 kìm cắt có đầu cắt dạng mỏ quạ, có 02 tay cầm, chuôi được bọc nhựa màu đen, thân tay cầm sơn màu cam chiều dài khi gập tay cầm là 47cm, lưỡi cắt bằng kim loại bị hoen rỉ, bị gãy chốt bên tay cầm.

(Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/09/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mê Linh.)

* Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136; 331; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Công an ND huyện Mê Linh
  • - Viện kiểm sát ND huyện Mê Linh
  • - Viện kiểm sát NDTPHN
  • - Sở tư pháp HN
  • - Trại giam HN
  • - Thi hành án dân sự huyện Mê Linh
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Ủy ban ND cấp xã nơi bị cáo cư trú
  • - Lu hồ sơ vụ án;
  • - Lu VP;
  • - Bị cáo, Ngời tham gia tố tụng

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Thanh Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - TP HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 97/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - TP HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Thắng và đồng phạm trộm cắp dây điện tại trường học
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger