Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN B

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 97/2024/HS-ST

Ngày: 09-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Ấn

Bà Dương Thị Sáu

Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Nguyễn Duy Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 97/2024/HSST ngày 23 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Phan Minh T, tên gọi khác: Không, sinh năm 1993, tại Long An; Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn S và bà Phan Thị D; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

Tại Bản án số 23/2019/HSST ngày 26/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An xử phạt 03 năm tù, về tội “Cướp giật tài sản”, đã đóng án phí ngày 15/7/2019, đến ngày 04/02/2021 chấp hành xong hình phạt tù, đã xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/4/2024 đến ngày 03/5/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện B (có mặt).

- Bị hại: Thái Thị Ngọc H, sinh năm 1999 (xin vắng mặt);

Nơi ĐKTT: Ấp Q, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

Chỗ ở hiện tại: Số A, đường số A, KDC T, khu phố H, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Phan Thị Q, sinh năm 1984 (vắng mặt);
    Địa chỉ: Ấp G, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
  2. Phan Thị D, sinh năm 1959 (có mặt);
    Địa chỉ: Ấp 1, xã Thạnh Đức, huyện B, tỉnh Long An
  3. Dương Minh T1, sinh năm 1990 (vắng mặt);
    Địa chỉ: Số E, Ấp A, xã N, huyện B, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 26/4/2024, Phan Minh T điều khiển xe mô tô biển số 62G1-060.84 một mình đến Hẻm S, đường V, Khu phố A, thị trấn B, huyện B, thì nhìn thấy chị Thái Thị Ngọc H đang đứng sử dụng điện thoại cặp bên trái đường theo hướng đi nên nảy sinh ý định chiếm đoạt bán lấy tiền tiêu xài. T điều khiển xe chạy qua vị trí chị H đang đứng khoảng 30m rồi vòng xe lại, chạy về hướng chị H, áp sát bên trái chị H, dùng tay trái đưa chéo qua bên phải giật 01 điện thoại Xiaomi Redmi Not Pro Green, màu xanh lá nhạt của chị H đang cầm trên tay, nhanh chóng tăng ga tẩu thoát đến tiệm Đ tại Ấp A, xã N, huyện B, bán chiếc điện thoại vừa giật được cho Dương Minh T1 với giá 2.000.000đ, T1 tiêu xài cá nhân hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐG ngày 10/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B định giá và kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Not 13 Pro, màu xanh lá trị giá 2.750.000đ.

Tại bản Cáo trạng số 96/CT-VKSBL ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố bị cáo Phan Minh T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Phan Minh T hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận giám định, đồng thời không khiếu nại đối với cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ y quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo Phan Minh T về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phan Minh T phạm tội “Cướp giật tài sản”. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phan Minh T mức hình phạt từ 04 năm đến 05 năm tù.

Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phan Minh T.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Dương Minh T1 tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Not 13 Pro, màu xanh thuộc sở hữu của Thái Thị Ngọc H. Hiện Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã trả lại cho chị H nên không đề nghị xem xét.

01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 62G1-060.84 thuộc sở hữu của chị Phan Thị Q cho bà Phan Thị D (mẹ ruột của chị Q và bị cáo Phan Minh T) mượn để sử dụng. Việc bị cáo T sử dụng xe cướp giật tài sản chị Q và bà D không biết, hiện CQĐT đã trả lại xe cho chị Q nên không đề nghị xem xét.

01 áo sơ mi dài tay, màu trắng đục; 01 quần sọt ngang đầu gối màu tím nhạt, 01 đôi dép sốp, màu đen có in chữ New York C là trang phục bị cáo Phan Minh T mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, tại phiên toà bị cáo T không có yêu cầu nhận lại nên đề nghị tịch thu tiêu huỷ.

- Về trách nhiệm dân sự: Sau vụ việc, bị hại Thái Thị Ngọc H đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu về dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phan Thị Q, Dương Minh T1 không có yêu cầu về dân sự nên không đề nghị xem xét.

Đối với Dương Minh T1 có hành vi tiêu thụ tài sản do Phan Minh T cướp giật, Dương Minh T1 không biết tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan CSĐT Công an huyện B không xử lý hình sự là phù hợp.

Đối với chị Phan Thị Q và bà Phan Thị D không biết Phan Minh T sử dụng xe 62G1-060.84 đi cướp giật tài sản nên Cơ quan CSĐT Công an huyện B không xử lý hình sự là phù hợp.

Lời nói cuối cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về nội dung:

Lời khai nhận tội của bị cáo Phan Minh T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trong quá trình điều tra, phù hợp với Biên bản xác định hiện trường, Sơ đồ xác định hiện trường, Bản ảnh xác định hiện trường; phù hợp với Bản kết luận định giá tài sản số 22/KL-HĐĐG ngày 10/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B phù hợp với nội dung bản Cáo trạng. Từ đó có căn cứ xác định:

Khoảng 10 giờ ngày 26/4/2024, bị cáo Phan Minh T điều khiển xe mô tô biển số 62G1-060.84 một mình đến hẻm S, đường V, Khu phố A, thị trấn B, huyện B áp sát chị Thái Thị Ngọc H đang đứng sử dụng điện thoại. Bị cáo T dùng tay giật 01 điện thoại Xiaomi Redmi Not Pro Green, màu xanh lá nhạt trị giá 2.750.000đ của chị H rồi nhanh chóng tăng ga tẩu thoát.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Phan Minh T phạm tội “Cướp giật tài sản” với tình tiết “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố bị cáo Phan Minh T với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Bị cáo có hành vi sử dụng xe phân phối lớn và chạy xe áp sát vào bị hại, giật nhanh lấy điện thoại của bị hại và tăng ga tẩu thoát là rất nguy hiểm. Hành

vi này đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, quyền này được pháp luật hình sự bảo vệ, nếu người nào cố tình xâm hại thì sẽ bị pháp luật trừng phạt, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương mà còn có khả năng gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của bị hại. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của bị cáo gây ra là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo đã từng bị xét xử về tội “Cướp giật tài sản”, đáng lẽ ra bị cáo phải tu chí làm ăn nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi tương tự.

Do đó, hành vi trái pháp luật của bị cáo cần xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự; do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3]. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Phan Minh T phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Phan Minh T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, do đó khi lượng hình có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần.

[4]. Xét quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị xử phạt tù và mức hình phạt đối với bị cáo Phan Minh T là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 Bộ luật Hình sự thì hành vi phạm tội của bị cáo Phan Minh T còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 100.000.000đồng. Tuy nhiên, xét thấy theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Not 13 Pro, màu xanh thuộc sở hữu của Thái Thị Ngọc H, Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã trả lại cho chị H xong nên không đề cập xem xét.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 62G1-060.84 thuộc sở hữu của chị Phan Thị Q cho bà Phan Thị D (mẹ ruột của chị Q và bị cáo Phan Minh T) mượn để sử dụng. Việc bị cáo T sử dụng xe cướp giật tài sản chị Q và bà D không biết, hiện CQĐT đã trả lại xe cho chị Q nên không đề cập xem xét.

Đối với 01 áo sơ mi dài tay, màu trắng đục; 01 quần sọt ngang đầu gối màu tím nhạt, 01 đôi dép sốp, màu đen có in chữ New York C là trang phục bị cáo Phan Minh T mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, tại phiên toà bị cáo T không có yêu cầu nhận lại, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Sau vụ việc, bị hại Thái Thị Ngọc H đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu về dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phan Thị Q, Dương Minh T1 không có yêu cầu về dân sự nên không đề cập xem xét.

[8]. Đối với Dương Minh T1 có hành vi tiêu thụ tài sản do Phan Minh T cướp giật, Dương Minh T1 không biết tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan CSĐT Công an huyện B không xử lý hình sự là phù hợp nên không đề cập xem xét.

[9]. Đối với chị Phan Thị Q và bà Phan Thị D không biết Phan Minh T sử dụng xe 62G1-060.84 đi cướp giật tài sản nên Cơ quan CSĐT Công an huyện B không xử lý hình sự là phù hợp nên không đề cập xem xét.

[10]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phan Minh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Phan Minh T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  2. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự;
  3. Xử phạt bị cáo Phan Minh T 04 (bốn) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 27/4/2024.
  1. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Phan Minh T 45 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 09/9/2024) để đảm bảo cho việc thi hành án.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu huỷ 01 áo sơ mi dài tay, màu trắng đục; 01 quần sọt ngang đầu gối, màu tím nhạt; 01 đôi dép sốp, màu đen có in chữ New York City .

    (Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện B đang tạm giữ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/8/2024).

  3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Phan Minh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
  4. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện B;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Long An;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Bến Lức; B
  • - Chi cục Thi hánh án dân sự huyện B;
  • - Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Kim Thảnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 97/2024/HS-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN về hình sự sơ thẩm (tội cướp giật tài sản)

  • Số bản án: 97/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Cướp giật tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Minh T phạm tội “Cướp giật tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger